|
1.Tổng
quan về Thư pháp Việt: - Thư
họa & Đạo
Ở
Trung Hoa - thời Hán, từ khi phát minh ra bút
lông thì chữ Hán được viết trong một
cấu trúc có quy luật gọi là Thư Thể
gồm: Triện Thư, Lệ Thư, Khải Thư, Hành
Thư và Thảo Thư.
Ở
Nhật ngày xưa gọi môn nghệ thuật này là
Thư Đạo (như Trà Đạo, Kiếm Đạo, Võ Đạo, Thiền
Đạo v.v…). Bất cứ môn "Chơi" nào
nếu được châm chú, nghiên cứu cho đến
tận cùng để ngộ đến hư vô đều là Đạo
cả.
Thư pháp là phương pháp viết chữ đẹp, tiếng anh là Calligraphy,
theo từ điển Merrian Webster có nghĩa: Fair
or elegant hand writing or the art of producing such
writing. Vậy Calligraphy hay thư pháp là cách
viết chữ đẹp, không phân biệt loại
chữ nào, dù là chữ Hán, Việt, La tinh,
Hồi, Miên, Thái, v.v… Do đó chữ Hán không
thể giành ngôi vị độc tôn trên diễn đàn
nghệ thuật này.
Nếu
ai đó vẫn cực đoan, chỉ cho rằng thư pháp
là của chữ Hán thì rất sai lầm và chưa
thấu hiểu được cái huyền vi của siêu năng
con người,
một sinh vật duy nhất trên địa cầu có
ngôn ngữ và chữ viết để diễn đạt tư
tưởng.
Albert Einstein với tương đối luận, lấy giới hạn của tốc độ ánh sáng
tìm ra được sự chuyển hóa vật chất qua
năng lượng. Nhìn vào thư họa thì cái vật chất như:
giấy, bút, mực được viết lên bằng năng lượng nghệ thuật tâm linh thì nhất định phảI
đi vào Đạo. Thư pháp tức là Thư Đạo
vậy.
Vật
chất và năng lượng của Einstein bị giớI hạn 300.000km/s, nhưng siêu năng
tư
tưởng
thì hoàn toàn không bị hạn chế bởi
thời gian và không gian. Người Thư Đạo dùng năng lượng khí công thể nhập lời thơ siêu thoát
chuyển vào nét bút để đến cõi hư vô.
Thư Đạo là lối
viết tự nhiên không gượng ép, cái tự
nhiên của trời đất, của thiên nhiên như
Lão Tử đã viết: "Đạo pháp tự
nhiên" (Đạo bắt chước tự nhiên).
Những nét bút trên trang giấy như rồng
bay, phượng múa, như gió thoảng mây bay; lúc
im lìm lắng đọng, lại có khi cuồng phong
bão tố, đó là cái tự nhiên của đất
trời và cũng là cái Đạo vô cùng vậy.
Từ
ngàn xưa, các Đạo sư, Thiền sư đã dùng thư pháp làm phương tiện chuyển đạt những cao thâm
của Đạo. Bất cứ Đạo nào học ở phương Đông cũng đều là Đạo sống, nghĩa là tri hành hợp nhất.
Thư
Đạo
là vừa tri vừa hành, vừa cảm vừa ứng.
Ngọn bút lông, ý đạo, lời thơ với tâm thiền đưa ta đến sự giải thoát, thực hiện được câu
kinh tối thượng của Đạo gia là hư kỳ tâm,
thực kỳ phúc. Đó là phép "dụng tâm
nhược
kính",
của Trang Tử, cũng là bí quyết dùng Thái
Cực Quyền với nguyên tắc "xả ký
tùng nhơn",
"dĩ
động cầu tịnh" . Một bức thư họa cũng là sự diễn đạt luật đạI
hóa du
hành, cái diễn biến từ lúc khởi thủy đến
hồi chung cuộc của vạn sự, vạn vật qua
bốn giai đoạn: thành, thịnh, suy, hủy được
thoáng diễn qua một vài nét bút tài hoa.
Nhà
thư pháp không những phảI thông hiểu về
luật thiên nhiên mà cần phảI điêu luyện
nét bút căn bản, đầy đặn, mạnh mẽ như: điểm, hoành, nét ngang, nét sổ, nét nhất lên,
nét phẩy xuống v.v… Tâm, ý thân vừa
hằng vừa chuyển, vừa bất di vừa biến
dịch trong nghệ thuật thượng thừa của
Thư Đạo.
Văn chương, nghệ thuật của Thư Đạo cô đọng trong tranh thư họa với sự lặng thinh, nhưng
là một thứ lặng thinh hùng biện và khêu
gợi để ngưòơi xem phải vận dụng công phu suy nghĩ, im thấy mà
lắng nghe tiếng dội ở nơi sâu thẳm của
lòng mình. Người xem phải "đắc ý
vong ngôn" thì mới có thể thưởng
thức được những nghệ thuật siêu đẳng
thuần túy của Thư Đạo. Điều
quan trọng đối với như thư
họa là cốt tìm nắm lấy cái căn bản
của thiên nhiên, tức là cái hư vô, cái vô
cùng vô ẩn trong từng sự vật hữu hạn.
Hư không trong thư họa được tượng trưng
bằng những nét bút mạnh và thẳng, dường
như chỉ phớt nhẹ trên mặt giấy và cảm
thấy như nó bay đi vùn vụt, mất dạng trên
không trung. Nét nào đã phóng ra không bao
giờ đồ lại, nét đồ là nét chết.
Nét bút thư họa vừa táo bạo vừa nhẹ nhàng
thường gọi là Thần bút. Nhà thư
họa chỉ dùng có một màu đen,
khi đậm,
khi nhạt, hòa với nước lã vẽ trên nền
giấy, lụa trắng làm nổi bật lẫn nhau để
biểu trưng cho sự gắn bó của âm dương.
Muốn nắm lấy cái hư không tuyệt đối,
nhà thư pháp phải phá các hình thức hữu
danh để tạo những hình thức mỹ thuật vô
danh, một lối cấu tạo tự do, không lề
lối nhất định gì cả. Thay vì vẽ một cái
cây, nhà thư họa chỉ vẽ một đoạn thân
cây, không gốc, không ngọn, cũng như vậu
nét chữ không cần phải chân phương. Hình
thức gây nhiều mỹ cảm nhất là những hình
thức bất toàn và trống không, những hình
thức không hình thức rõ ràng. Chính sự
cực kỳ giản đơn mới biểu trưng khái quát
được hư không, cái vô cùng vô tận của
vũ trụ.
Giá
trị mỹ thuật thượng thặng của Thư Đạo bao giờ cũng ở nơi sức khêu gợi của nó.
Sự bất chấp luật viễn thị trong thư
họa, dùng nguyên tắc không nguyên tắc, chú
trọng đến thần khí của câu thơ, nét bút;
cái màu không màu của màu trắng đen
đậm
nhạt của thủy mạc, đó là những đặc
điểm của thư đạo,
có công dụng siêu thoát không gian để được
cận với hư không mới gợi
được cái cảm giác vô cùng của Đạo.
Thư họa, thư pháp, thư đạo chính là phương tiện tạo cho ngườI viết một thể tánh,
một tâm hồn, một tác phẩm không tận cùng,
một thứ bất tận ngôn, ngôn bất tận ý.
Người viết thư pháp phải tập cho lòng luôn
luôn bình thản, vô tư, thanh tịnh, đạt đến
tâm vô niệm trong phương pháp của Trang
Tử" "dụng tâm nhược kính".
Được
như vậy, thư pháp, thư họa không còn là môn
nghệ thuật tầm thường mà là một chính
pháp, một Đạo thư, một Đạo trong nghệ
thuật thư họa.
2. Giới thiệu chung về Thư Pháp Việt Nam
Xin được giới thiệu với
các bạn một bộ môn nghệ thuật đang phát triển ở
Việt Nam, đó là môn Thư pháp.
Ở Việt Nam thuở xưa, vào mỗi dịp Xuân về, người dân
hay đến nhà những « Thầy Ðồ » hay những người « hay
chữ » để xin chữ về treo như một bức tranh, vừa là
món đồ trang trí nhưng cũng vừa là món ăn tinh thần.
Thầy đồ hay người hay chữ cho chữ bằng cách viết một
hay nhiều chữ trên một tờ giấy lớn, với nội dung
mang tính cách chúc tụng hay giáo dục, nét chữ
thường được khen là đẹp như rồng bay phượng múa. Lối
viết như vậy được gọi là Thư Pháp. Thư Pháp là
phương pháp viết chữ (đẹp).
Cụ Ðồ
xưa:
Thư pháp
là một môn nghệ thuật phát xuất từ Trung Hoa và đã
được các nước Nhật, Triều Tiên, Việt Nam âm thầm
chấp nhận và lặng lẽ duy trì.
Ðối với phương Tây, thư pháp được thực hiện bằng
nhiều phương tiện : bút sắt, cọ, thước, compa, êke...Con
chữ được nắn nót theo chuẩn mực và tỷ lệ. Ðó là cái
đẹp của các con chữ theo thị giác người sử dụng hệ
chữ La Tinh.
Ðối với
người phương Ðông, nói đến môn Thư pháp, người ta
thường nghĩ đến cách viết chữ Hán với phong cách đặc
biệt... Với cây bút lông, mực và giấy người Trung
Hoa đã đưa nghệ thuật viết chữ vươn lên đỉnh cao với
lý thuyết phong phú, mang tính triết học, thiền học.
Ở Việt-Nam vào thời điểm nầy, có lẽ ngoại trừ một số
người lớn tuổi thâm Nho mới đọc được chữ Hán, chữ
Nôm, chớ còn hầu hết là không đọc được.
Bởi vậy tại sao ta không viết thư pháp bằng tiếng
Việt ? Viết chữ Việt cũng đẹp vậy, bởi vì sao giải
thích được : « Sao là đẹp ? Sao là không đẹp ? » (KTS
Nguyễn Thanh Sơn)
« Biết đâu cái gọi là đẹp đối với ta, chắc gì gọi là
đẹp đối với kẻ khác !... biết đâu cái gọi là đẹp đối
với ta bây giờ chắc gì gọi là đẹp đối với ta sau nầy”
(Trang Tử).
Thư
pháp bằng tiếng Việt:
Theo các
bậc khoa giáp thời xưa, việc chọn một câu văn một
bài thơ để viết lên trang giấy là việc cần hết sức
cẩn trọng. Vì ngoài việc thể hiện nét bút tài hoa,
năng khiếu viết chữ, nội dung một bức thư pháp còn
cho thấy tư tưởng, kiến thức, tâm hồn của người viết.
Khi cầm bút, ngoài thể hiện những đường nét rồng bay
phượng múa, các thư pháp gia còn phải "nhiếp tâm"
với những gì mình sắp sửa viết ra.
Phong trào viết Thư pháp bằng tiếng Việt đã được
khôi phục một cách mạnh mẽ từ khoãng 10 năm nay. Bên
Việt Nam nhiều Câu Lạc Bộ viết Thư pháp được thành
lập trong các thành phố lớn, đã có nhiều "Thư pháp
gia" tổ chức những cuộc triển lãm thư pháp như những
hoạ sĩ triển lãm tranh vẽ. Tôi xin giới thiệu với
bạn sơ lược về bộ môn nầy.
Mới nhìn qua, chúng ta có thể nghĩ là bộ môn nầy khá
dễ, muốn viết sao cũng được, miễn cho đẹp thì thôi !
Thật ra môn Thư pháp cũng có nhiều qui tắc, sau đây
là vài nguyên tắc chánh.
3. Thư
pháp tại Bình Thuận:
|
 |
|
Nhất Chi Lan đang
viết thư pháp với người hâm mộ. Ảnh: BaoTy |
Lâu
lắm rồi phố biển Phan thiết mới bắt đầu xuất hiện
một phòng tranh thư pháp. Thư pháp là một thú chơi
không cũ mà cũng chẳng mới, bởi sự xuất hiện của nó
từ đất nước Trung Hoa xa xôi đã có hơn 2 nghìn năm
tuổi. Nhưng người chơi thư pháp ở Việt Nam thì đã
biết đến thư pháp ngót trên 100 năm.
Có thể gọi thư pháp là tranh chữ, nhưng nó lại
mang sắc thái đặc biệt của con người sáng tạo nên
bức tranh mà không được tự do bay lượn như các họa
sĩ khi tung những nét vẽ lên trang giấy. Người vẽ
tranh thư pháp, trước hết phải có một tâm hồn thanh
tịnh “như làn nước hồ thu”. Vì sao phải như vậy? Bởi
chẳng có bức tranh thư pháp nào có thể ra đời khi
lòng người đang rối ren, bấn loạn vì những cơm áo
đời thường vương vấn. Chị Hoàng Thị Ngọc Lan, tên
hiệu Nhất Chi Lan, chủ phòng tranh thư pháp, tâm sự
: “Có đêm thức trắng, muốn viết thư pháp thì trước
hết phải ngồi thiền. Lòng có tĩnh thì viết thư pháp
mới được”.
Viết được thư pháp là cả một kỳ công. Người Trung
Quốc xưa viết bằng bút lông, mực tàu, trên giấy lụa.
Với người Việt Nam quen chơi thư pháp, những nguyên
tắc đó cũng không thể nào thay đổi.
Người viết thư pháp quan trọng nhất cây bút. Để
biết cầm bút đúng cách viết thư pháp, người giỏi
phải mất một năm, người kém mà có tâm theo đuổi cũng
phải kiên trì 3 năm chỉ chuyên tập cầm bút. Bút viết
thư pháp phải là bút lông, nhất thiết không có bút
gì khác. Cầm cây bút sao cho thẳng mà không cứng,
vẫn mềm mại như hình con rắn uốn lượn.
Mực viết thư pháp cũng phải là mực xạ. Loại mực
này hiện nay không nhiều và khá đắt, thế nhưng người
ta không thể thay thế loại mực khác. Mực xạ đi với
giấy dó là loại giấy cổ truyền ở Việt nam. Những năm
trước đây, nghề làm giấy dó gần như thất truyền, nay
đã và đang được khôi phục lại ở một số làng nghề
miền Bắc. Giấy dó làm ra cũng chỉ để phục vụ một số
công việc như viết tranh thư pháp, viết câu đối, vẽ
tranh cổ… nên giá giấy khá đắt. Chị Lan cho biết,
trong khi một ram giấy trắng bình thường chỉ khoảng
mấy chục nghìn đã có thể mua được hàng trăm tờ, thì
giấy dó với chừng đó tiền chỉ có thể mua vài chục tờ,
mà chị phải lặn lội đặt hàng tận thành phố Hồ Chí
Minh đem về.
Loại giấy dó thấm chữ rất nhanh, người viết thư
pháp hay vẽ trên giấy này nếu không có trước ý tưởng
trước mà cứ họa lên giấy thì tác phẩm 10 phần độ 9
phần bị hư. Bút lông thấm mực tàu sẽ tạo nên những
nét đậm nhạt khác nhau, nhưng cái đậm nhạt lúc ấy
không phải là ở tay viết mà phải ở cái tâm của người
viết.
Thư pháp là mô phỏng theo hình dáng, sự chuyển
động của thế giới thiên nhiên qua những con chữ thần
kỳ. Chữ Tâm của Nhất Chi lan ở phòng tranh thư pháp
là vậy. Một vầng trăng tròn và cành cây khô vươn cao,
ai hiểu được thư pháp mới nhận ra những cành cây là
chữ M, vầng trăng kia tựa chữ Â và cành cây vắt chéo
qua mặt trăng đang rọi sáng là chữ T. Chị kể: Người
bước vào con đường viết thư pháp đầu tiên phải học
viết thành công 2 chữ: tâm và nhẫn. Với chữ Nhẫn,
chị Lan họa theo điển tích Tử Nha câu cá bên hồ Sông
Vỹ. Hình người đàn ông nhẫn nại với chiếc cần câu là
nét vòng của chữ N tạo cho người cảm nhận một sự xao
xuyến về con người và những thăng trầm trong cuộc
đời.
Người ta nói rằng con chữ, nhất là chữ thư pháp,
thường gắn với cuộc đời của người viết ra nó. Không
có quy tắc cho người chơi thư pháp, nhưng có một
nguyên tắc là chữ tâm phải sáng và tâm hồn phải
thanh thản, vì vậy mà hầu hết những người chơi thư
pháp đều biết Thiền- một cách tĩnh tâm. Ngoài ra thư
pháp là lối chơi dành cho người cao tuổi, có đời
sống nội tâm phong phú, thích hòa mình với cây cỏ,
thiên nhiên. Đến với thư pháp là đến với thiên nhiên
với muôn vàn hình thái, từ những cành cây đang vươn
lên đón nắng xuân, đến những cảnh se lạnh khiến cỏ
cây đìu hiu trong giá rét, từ hình ảnh chuyển động
của muôn loài động vật với vũ điệu thiên biến vạn
hóa đến sự chuyển động âm thầm trong thớ thịt đường
gân của thế giới sinh vật… Với người chơi và thưởng
ngoạn thư pháp, gần như đó là đòi hỏi để có thể hiểu
được nó.
Dù trước đây, ở Phan Thiết cũng đã có người biết
đến thư pháp và treo tranh trong nhà như một sự
thưởng ngoạn, thì với phòng tranh thư pháp của Nhất
Chi Lan, ít nhất nhiều người cũng biết đến hơn một
loại hình nghệ thuật độc đáo. Phòng tranh có trên
120 bức và được nhiều người ghé thăm với lòng ngưỡng
mộ. Nhiều bức tranh Xuân với những câu thơ Thiền,
thơ Bùi Giáng, Xuân Diệu, Nguyễn Du, Huy Cận, Chế
Lan Viên, những câu ca dao Việt nam. Nền văn học
nước nhà, những con chữ dường như trở nên lung linh
hơn bởi những nét thăng, nét trầm biến hóa và lẫn
vào đời sống cỏ cây trong những bức tranh thư pháp
mà Nhất Chi Lan đã dâng tặng cho phố biển Phan Thiết.
Khi muốn liên hệ với họa sĩ Nhất Chi Lan.
Các bạn
hãy liên hệ theo địa chỉ sau:
Nghệ
nhân: Nhất Chi Lan
Địa chỉ: +
81 Trần Hưng Đạo -
Phan Thiết - Bình Thuận
+ Khu tập thể Bưu Điện Phú Tài - Phan Thiết
Phòng tranh: 51 Lê Hồng Phong - Phan Thiết
E-mail:
tramhuong045@yahoo.com
Tel: 062.829403
- Mobi: 0918.784502
*
Hiện nay cuốn sách "Thư Pháp Việt"
do nghệ nhân Nhất Chi Lan và Thanh Tùng biên
soạn có bán trên các hiệu sách trên toàn
quốc. Các bạn có quan tâm mời tìm mua cuốn
sách này.
* Một vải bài viết về nữ danh họa Nhất Chi Lan mà
BaoTy sưu tầm được mong gửi đến chia sẻ cùng các bạn.
Nhất
Chi Lan - nhánh lan giữa rừng thư pháp
TT - Theo cách riêng của mình, nhà thư pháp nữ
Nhất Chi Lan đã miệt mài theo đuổi cái điều
“tiếng Việt ta cũng có thể viết đẹp, tôn vinh
qua thư pháp”.
Gần như tự gắn kết mệnh hệ mình với phụng sự
tôn vinh chữ Việt, nhà thư pháp nữ Nhất Chi Lan
bày tỏ: “Thật sai lầm khi cho rằng thư pháp là
của chữ Hán, chỉ có chữ Hán mới có thể viết đẹp.
Nói như thế là chưa hiểu hết cái huyền vi siêu
năng của con người, một sinh vật duy nhất trên
địa cầu có ngôn ngữ và chữ viết để diễn đạt tư
tưởng”.
Nhất Chi Lan (tên thật là Hoàng Thị Ngọc Lan)
sinh năm 1958 tại Đà Lạt, Lâm Đồng. Nhà thơ Kim
Chi - hội viên Hội VHNT Khánh Hòa, người bạn gắn
bó từ thuở nhỏ với Nhất Chi Lan - kể: “Hồi còn
học cấp I, Lan hay bị cô giáo khẻ tay bởi chữ
viết quá kỳ dị. Nhưng khẻ mãi rồi cô cũng...
chấp nhận. Biết thế nào được, tính khí nó vậy mà”.
Năm 2000 là thời gian Nhất Chi Lan rèn bút và
rèn trí mạnh nhất. Chị đọc sách đông, tây, kim,
cổ để hiểu về đạo và thiền, về dịch lý, về yoga
và khí công... Nghịch cảnh hạnh phúc gia đình và
gánh nặng cơm áo mà có lúc người ta thấy chị đi
cùng... chiếc xe phở trên các ngả đường, có lúc
lại thấy Nhất Chi Lan trong vai trò một người
đầu bếp tại một nhà hàng... đã không làm chị
chùng lòng.
Chẳng phải vô cớ mà chữ “nhẫn” và chữ “tâm”
qua thư bút của Nhất Chi Lan lại trở nên có
chiều sâu và có hồn đến thế, người ta “xin” nó ở
chị nhiều đến thế. “Một tháng mình kiếm được
khoảng hơn triệu đồng tiền nhuận bút viết báo,
thơ, truyện ngắn và bán thư pháp... Cũng đủ để
lấy nghệ thuật nuôi nghệ thuật!” - Nhất Chi Lan
nói.
Nhất Chi Lan là nhà thư pháp hiếm hoi trên
đất văn hóa Champa Bình Thuận, cũng là người đầu
tiên mạnh bạo tổ chức cuộc triển lãm thư pháp
Việt tại Bình Thuận đầu năm nay và gặt hái nhiều
thành công. Còn mới đây, thư pháp Nhất Chi Lan
đã xuất hiện tại Festival Huế 2004 như một hiện
tượng lạ khiến không ít người thán phục. Chị đến
Huế khi mà vùng đất cố đô có lắm nhân kiệt, cao
thủ thư pháp và họ có quá nhiều ưu thế, điều
kiện, kể cả sự chiếm lĩnh công chúng trước chị...
Còn chị thì cái gì cũng... không, ngoại trừ
“một cây cọ và tấm lòng cùng Huế”! Mọi cản trở
chị đã vượt qua, một vườn thư pháp Việt được xây
dựng tại sân cỏ khách sạn Century Huế - nơi chị
được “cho không” để triển lãm do ông Nguyễn
Phong Hưng - giám đốc khách sạn - cám cảnh và
mến phục tài năng của chị, nhất là tấm lòng chị
với Huế.
Trong vườn thư pháp ấy, người xem đã đặc biệt
chú ý cuốn thư pháp thơ Hàn Mặc Tử dày 70 trang,
dài 1,2m, rộng 1m và cuốn thư pháp tuyển thơ Bùi
Giáng dày 60 trang, rộng 0,6m, dài 0,8m cùng
hàng trăm tác phẩm thư họa, tranh thủy mặc, ký
họa khác...
Đặc biệt, khoảng 1.000 cuốn lý luận Thư pháp
Việt (dày hơn 100 trang) của Nhất Chi Lan đứng
tên chung với Thanh Tùng - người mà chị xem là
người thầy đầu tiên dạy thư pháp cho mình - do
Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành đã trở thành một
cuốn cẩm nang cho công chúng đến với thế giới
thư pháp.
Có lẽ thành công nhất với thư pháp Nhất Chi
Lan tại Festival Huế 2004 vẫn là sự đón nhận
nồng nhiệt và thu hút đông đảo công chúng trẻ.
Họa sĩ Đặng Mậu Tựu, phó chủ tịch Hội Văn học
nghệ thuật Thừa Thiên -Huế, cảm động nói: “Nếu
như Festival Huế 2004 là một thảm hoa thì chị đã
cắm lên thảm hoa ấy một nhánh hoa của riêng mình”.
Về thư pháp Nhất Chi Lan, nhà thư pháp trứ
danh - sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh - nhận xét: “Về
nét chữ, về khí bút... của Nhất Chi Lan thì phải
nói là nữ tính ẩn, nam tính hiện, rất tự tin,
rất phóng khoáng, rất phiêu bồng, rất có cá tính...”.
Còn nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ sau khi thưởng lãm thư
pháp Nhất Chi Lan, đã để lại lời tâm sự: “Hồn ở
trong chữ, chữ ở trong tâm. Cám ơn Nhất Chi Lan
đã cho tâm hồn tôi thanh thản, thánh thiện”.
Phòng tranh thư pháp Nhất Chi Lan
|