|
|
|
Cuối
thế kỷ 17, đạo quân của Chúa
Nguyễn do chưởng cơ Nguyễn Hữu
Cảnh chỉ huy được lệnh tiến sâu
vào vùng đất cực Nam. Năm 1693, vượt
qua con sông Mai Nương của xứ Pan Ran
(Phan Rang) băng theo vùng gió cát ven
biển Đông, các toán quân binh lần lượt
tiến vào cửa biển Paric (Phan Rí)
rồi đến cửa Ba-Giai (Phố Hài).
Cuộc hành quân đường bộ dài
khoảng 150 kilômét ấy tạm dừng
lại ở một dải đất trũng khá
rộng nằm dọc theo biển; đây đó
nhấp nhô những đòi đất sỏi chen
với các đụn cát vàng nối dài.
Một
dòng sông từ hướng Tây xanh mờ non
núi, chảy về uốn khúc giữa lòng
thung lũng rộng mở nối xuôi thẳng
ra vùng sóng nước mênh mông. Hai bên
bờ sông mọc đầy những cụm bần,
mấm cạnh các khe lạch lớn nhỏ,
rải rác đây đó là đầm ao chen
giữa lau sậy um tùm. Được biết nơi
đây có tên gọi lâu đời của người
Chăm là Ha-mu LITHIT (xóm có tên là
LITHIT). Mặc dù sớm có mặt vài nhóm
cư dân bản địa cất chòi, dựng
trại làm rẫy và đánh cá, toàn vùng
vẫn chưa được khai phá mấy, cảnh
vật còn rất hoang sơ.
|
|
|
Ngoài
mấy ngôi tháp cổ kính màu đỏ gạch nung trơ vơ trên
một ngọn đồi về hướng Đông Bắc, các xóm nhà còn
lại chẳng có gì đáng kể, đất đai đậm nét nghèo nàn.
Trong khi đó, sự trù phú của biển bày ra trước mắt
với cảnh sớm sớm mặt nước chao động mạnh bởi
chớn sóng của các đàn cá mòi dày đặc nổi gần bờ,
hay ngoài xa kia, từng bầy cá voi với thân hình bóng loáng
đang chập chờn phun cao vòi nước...
Lúc đầu, chưa ai có ý định đặt ngay cho vùng đất này
một tên gọi mới bằng tiếng Việt. Vậy mà không
biết bao giờ, cái âm cuối của địa danh Chăm LITHIT
lại được gắn liền với âm "PHAN" tách từ
phiên âm của tên hai vùng Phan Rang, Phan Rí mà thành ra
Phan Thiết. Dù chẳng mang ý nghĩa gì đặc biệt, cái tên
mới Phan Thiết nghe cũng khá thuận miệng với mọi người.
BUỔI
ĐẦU HÌNH THÀNH PHAN THIẾT
Như
sử sách đã nêu, vùng đất có tên Phan Thiết mở ra cùng
một thời gian hình thành tỉnh Bình Thuận. Nhưng đáng nói
là qua nhiều năm, Phan Thiết vẫn chưa xác định thuộc
đơn vị hành chánh cấp gì, đặc biệt cũng chưa nói rõ
địa giới của nó tới đâu. Phải đợi đến khi Bình
Thuận từ một Trấn đổi thành Phủ năm 1697 rồi sau đó
đặt làm Dinh, thì Phan Thiết mới chính thức được công
nhận là một Đạo (cùng một lượt với các Đạo Phan
Rang, Phố Hài, MaLy vùng Tam Tân Lagi). Đạo là cấp hành
chính dưới Dinh và trực thuộc Dinh về mọi mặt, mặc
dù đứng đầu nó có hai viên quan văn, võ lo việc cai
trị. Nhưng Đạo không được coi tương đương với
cấp huyện và càng không thể sánh với Đạo được
lập ra sau này là một tỉnh nhỏ.
Dưới
thời phong kiến, bộ máy hành chính của tỉnh Bình
Thuận thường không ổn định được lâu. Đạo Phan
Thiết lập nhưng chẳng có văn bản nào chỉ rõ nó
quản lý trên phạm vi gồm bao nhiêu thôn, xã. Chỉ biết
128 năm sau năm 1825 vào thời Minh Mạng, Đạo Phan Thiết
được giảm bỏ, và ruộng đất này cho nhập vào
huyện (năm 1854 vào thời Tự Đức, huyện này là huyện
Tuy Lý) thuộc phủ Hàm Thuận từ khi Bình Thuận chính
thức cải thành tỉnh.
Dù vậy, trải qua bao nhiêu năm, Phan Thiết vẫn được
mọi người từ trong Nam ra ngoài Bắc vào đều nhắc
tới là chốn thị tứ quen thuộc, sầm uất ở cuối
miền Trung. Và cũng không mấy ai quên nơi đây trước
kia là một nơi thường diễn ra các cuộc giao tranh ác
liệt giữa các lực lượng quân Nguyễn và quân Tây Sơn
kéo dài từ năm 1773 đến năm 1801. Sức người, sức
của của vùng duyên hải trù phú này đã bị vơ vét,
chiếm đoạt tận cùng để phục vụ cho cuộc nội
chiến. Tiếp đến vào giữa thế kỷ XIX khi giặc Pháp
đánh chiếm Sài Gòn - Gia Định năm 1859 thì từ đó Phan
Thiết trở thành nơi lui tới, tụ họp thường xuyên
của các phần tử yêu nước chống Pháp xâm lược ở
Nam Bộ.
Hâu quả chiến tranh tàn phá nặng nề khiến nhà thơ
Nguyễn Thông mấy mươi năm sau về sống ở Phan Thiết
đã ngậm ngùi nhìn cảnh đất này bằng mấy câu thơ:
" Địa kinh nhưng mã nhân yên thiểu
Tuế khốn chinh thâu vật lực cùng"
(Tạm dịch là: Đất đai trải qua chiến tranh, người
ở thưa thớt, hàng năm khổ sở về sưu thuế, của
cải cùng kiệt).
Năm
Minh Mạng thứ XVII năm 1836, Thị Lang Bộ Hộ là Đào Tri
Phủ được cử làm việc khám đạc, lập địa bạ
tỉnh Bình Thuận để chuẩn định và tiến hành đánh
thuế. Trong số trên 307 xã, thôn thuộc hai phủ, bốn
huyện và mười lăm tổng của tỉnh Bình Thuận, đo đạc
xong ước tính có khoảng chín địa điểm năm trong khu
vực được coi là vùng Phan Thiết thuộc tổng Đức
Thắng. Bên hữu ngạn sông, đó là các xã Đức Thắng,
Nhuận Đức, Lạc Đạo và các thôn Thành Đức, Tú Long.
Bên tả ngạn là xã Trinh Tường và các thôn Long Khê,
Long Bình, Minh Long.
Qua nhiều lần thay đổi các đơn vị hành chính, một
số thôn nhỏ sáp nhập thành làng lớn, có những địa
danh cũ biến mất hẳn, không tiện tra cứu sau này, như
Minh Long, Long Bình (thuộc địa phận Bình Hưng hiện nay)
hay Long Khê (thuộc địa phận Phú Trinh). Một số thôn,
xã khác cùng Tổng Đức Thắng nh Phú Tài, Phú Hội, Xuân
Phong, Đại Nẫm thì được xem là ngoại vi của Phan
Thiết. Vào thời đó, một số địa danh quen thuộc ở
khu vực Phố Hài như Tân Phú, An Hải, An Hoà, Tú Lâm, Sơn
Thủy, Thiện Chính, Ngọc Lâm... thì thuộc về Tổng Hoa
An (sau đổi lại là Lại An) của huyện Tuy Định. Xa hơn
nữa về phía Đông Phan Thiết, một số thôn xã dọc
bờ biển như Khánh Thiện, Thạch Long, Long Sơn (nay
thuộc khu vực Rạng - Mũi Né) lại thuộc một Tổng khác,
Tổng Vĩnh An của huyện Hoà Đa.
Cuối
thế kỷ XVIII, một cây cầu gỗ dài 41 trượng (khoảng
164 mét) bắc qua sông Phan Thiết, cách biển trên một
dặm (khoảng nửa kilômét), nối liền con đường cái
quan. Cầu có tên Thắng Kiều do một trăm dân đinh ở xã
Đức Thắng được tha bắt lính và đóng thuế để
dựng nên. Từ năm 1809 vào thời Gia Long, đường cái
quan được tu bổ, mở rộng có quân xá và trạm dịch
chuyển công văn từ trong ra ngoài. Đoạn ngang qua đồng
bằng Phan Thiết rộng tới 40 - 50 kilômét với gần 6 kilômét
qua toàn ruộng muối đến Phố Hài, là khu vực sầm
uất nằm giữa hai trạm Thuận Lý và Thuận Phan. Phía
tả ngạn sông lúc đó có phủ trị Hàm Thuận đóng, hai
bờ sông đều nhóm họp chợ sớm chiều. Nhìn đâu đâu
cũng người qua kẻ lại dập dìu, trên bờ cửa nhà chen
chúc còn dưới bến thì tấp nập ghe thuyền. Đi xa trên
15 kilômét nữa, gặp trạm Thuận Tỉnh (nằm trong khu
vực Rạng - Mũi Né) đóng giữa một làng đánh cá trù
phú có tới 400 nóc nhà ngói.
Bằng đường biển, người ta đã dùng mấy chục chiếc
ghe bầu chuyên chở nhiều sản phẩm hàng hoá của
ruộng đồng, rừng núi, sông biển Bình Thuận vào Sài Gòn
- Gia Định và đến tận Singgapore buôn bán. Đó là
muối, cá mặn, nước mắm, bông vải, đậu phộng, heo
sống, da thú các loại... và các thứ quý hiếm như ngà
voi, sừng tê giác, trầm hương... Kết hợp những
chuyến hàng bán ra nước ngoài, ghe thuyền trở về không
quên mua sắm các món vũ khí, súng đạn để phòng thủ
đất nước chống ngoại xâm, nhất là khi giặc Pháp
rục rịch xuất hiện. Cho nên không phải ngẫu nhiên vào
thời kỳ đó, đã có nhận định rằng Phan Thiết và
Phố Hài là hai cửa khẩu quan trọng bậc nhất trên
tuyến từ Nam Định vào Sài Gòn.
Tuy vậy, mài đến gần cuối thế kỷ XIX, Phan Thiết
vẫn chưa được công nhận chính thức là một đơn vị
hành chính của tỉnh Bình Thuận. Có lẽ sẽ lợi nhiều
hơn cho việc hình thành và phát triển của Phan Thiết
nếu ngay từ năm 1835, vua Minh Mạng chịu chấp nhận đề
nghị của tuần vũ Dương Văn Phong cho chuyển tỉnh thành
Bình Thuận lập từ thời Gia Long ở gần Phan Rí (huyện
Hoà Đa) về đóng ở địa phận Phú Tài - Đại Nẫm,
huyện Hàm Thuận. Phải đợi đến hơn 60 năm sau, tức là
vào năm Thành Thái thứ muời (năm 1898), tỉnh lỵ Bình
Thuận mới đổi chỗ, đặt tại làng Phú Tài ở ngoại
vi Phan Thiết. Phan Thiết từ lâu vốn được dư luận xa
gần coi là một châu thành, thì nay mới chính thức đặt
thành thị xã (centre urban), tỉnh lỵ của Bình Thuận sau
khi có đạo dụ của vua Thành Thái ra ngày
20-10-1898
(cùng một ngày thành lập các thị xã Thanh Hoá, Vinh,
Huế, Hội An, Quy Nhơn). Bộ máy thống trị của Pháp ở
Bình Thuận do một tên công sứ (résident) đứng đầu cùng
cơ quan làm việc - gọi tắt là "toà sứ" - đặt
thường trực tại Phan Thiết. Công việc đầu tiên mà
bọn cầm quyền Pháp phải làm là sắp xếp lại thị xã
Phan Thiết. Vì bước sang đầu thế k XX - mãi đến năm
1905 - thị xã này vẫn chưa xác định rõ ranh giới.
Theo
Nghị định số 4-11-1910 của toàn quyền A.Klobukowski,
Phan Thiết bao gồm 16 làng xã. Cụ thể bên hữu ngạn sông
có: Đức Thắng, Thành Đức, Nhuận Đức, Nam Nghĩa,
Lạc Đạo, Tú Long; bên tả ngạn sông có: Long Khê, Phú
Trinh, Trinh Tường, Đảng Bình, Quảng Bình, Thiện Mỹ,
Thiện Chánh, Xuân Hoà, An Hải, Sơn Thuỷ (năm làng sau trước
đây thuộc khu vực Phố Hài). Nay có thêm mấy địa danh
mới như Nam Nghĩa, Quảng Bình là do số dân Quảng Nam,
Quảng Nghĩa, Quảng Bình di cư vào Phan Thiết ngày càng
đông, hình thành các vạn, hộ trên địa bàn làng Thành
Đức và làng Long Bình. Và do sự điều chỉnh, sáp
nhập mới nên có vài tên làng rất xưa như Long Bình,
Minh Long không tồn tại nữa. Tuy vậy cũng chưa ổn, vì
chỉ tám năm sau, theo Quyết định ngày 6-1-1918 của Khâm
Sứ Trung Kỳ Charles thì Phú Hài (tên gọi mới của Phố
Hài) phải tách ra khỏi Phan Thiết để nhập về tổng
Lại An của huyện Hàm Thuận.
Bộ máy chính quyền ở Phan Thiết được quy định: đứng
đầu là viên công sứ Pháp ở Bình Thuận kiêm chức đốc
lý (résident-maire) vừa là Chủ tịch Ủy ban thành phố
(conmission municipale), Phó Chủ tịch Ủy ban là viên tuần
vũ; các ủy viên do Khâm Sứ Trung Kỳ chọn; và Ủy ban
chỉ có chức năng tư vấn. Bên dưới có một bang tá
trực tiếp làm việc với quan Đốc lý Pháp và quan
tỉnh của Nam triều. Mỗi phường có một phường trưởng
thuộc quyền của bang tá. Ngoài phường trưởng còn có
các hương chức khác thừa hành công vụ như của các làng
xã ở phủ, huyện.
Vào thời ấy, Phan Thiết có số dân chừng 25.000 người
(trong tổng số trên 10 vạn dân của Bình Thuận). Bên
cạnh đại đa số người Việt, có khoảng trên 700 Hoa
Kiều và Minh Hương, 60 người Âu và một số ít người
Ấn..
|