Khuya,
trong khi mọi người trên đất liền đang ngon giấc thì
cũng là lúc xa tít nơi biển khơi có một đội thuyền
khoảng gần 50 chục chiếc làm nghề giã sò vặn (sò búa,
sò móng tay) đang hối hả làm việc bất kể mưa gió để
chuẩn bị hàng trăm tấn sò cung cấp cho phiên chợ sớm
mai...
Nghề
mới....
Chưa
kịp thở lấy hơi, Tám Long, trạc khoảng 45 tuổi - chủ
thuyền vừa là tài công nói lớn: "Treo cảo lên
nhanh, xuất phát". Tiếng máy tàu tranh nhau nổ vang
cả một vùng cửa biển, chen nhau lòng vòng mãi đến
gần một giờ đồng hồ sau thuyền tôi đang ngồi mới
chen ra được khỏi cửa. Dưới cơn mưa lất phất tháng
8, thuyền tăng tốc nhằm hướng nam thẳng tiến, càng lúc
càng xa dần những ánh đèn đêm nơi đất liền. Lúc này
trên sàn ván trước mũi thuyền, gần chục thanh niên đi
theo thuyền đang tranh thủ ngủ lấy sức mặc cho gió, sóng
biển phủ ập vào.Phải vất vả lắm tôi mới bước ra
được phía sau nơi anh Tám Long đang cầm tay lái để
ngồi trò chuyện, anh cho biết thêm: "không phải đây
là chuyến thứ nhất mà là thứ ba trong ngày nay rồi đấy".
Thấy tôi ngạc nhiên anh giải thích thêm: "tại bữa
giờ nhu cầu sò vặn trên bờ nhiều, giá cũng cao hơn, bình
thường chỉ khoảng 5.000 đồng/một bao 50kg, nhưng bữa
giờ lên đến 7.000 đồng, vì thế không riêng gì tôi mà
gần 50 thuyền khác trong thành phố cũng tăng tốc".
Nhìn mọi người đang ngon giấc tôi biết mọi người
rất mệt, nhưng có mệt họ cũng phải cố, nếu như không
đáp ứng được số lượng sò mà đầu nậu của mình
trên bờ đặt hàng thì họ sẽ đi mua của thuyền khác.
Và để trả lời câu hỏi của tôi về nguồn sò vặn,
Tám Long nói lớn trong tiếng gió lạnh về sáng: "Sò
này sinh nở nhanh lắm, nằm dày dưới đáy biển, riêng
thuyền Phan Thiết nếu mỗi ngày chỉ đi một chuyến thì
cũng cung cấp cho thị trường khoảng gần 300 tấn sò,
nếu không tin thì ít nữa em sẽ thấy". Mặc dù không
phải là dân biển nhưng tôi sống cùng xóm dân biển nên
hiểu phần nào về cuộc sống biển, vẫn thường nghe dân
biển nói vui về nghề giã sò vặn là "nghề cào đá".
...
Bỗng câu nói như ra lệnh: "Thả cảo" của Tám
Long vang lên trong đêm khuya làm tôi giật mình, nhoài người
nhìn quanh rất nhiều ánh đèn của những thuyền khác đậu
san sát nhau sáng rực một góc biển cũng đang bắt đầu
hoạt động. Tất cả mọi người đều thức giấc vội
vã, anh cho thuyền từ từ giảm tốc độ, trên thuyền
hối hả mỗi người một việc như: thả giã, chuẩn
bị bao đựng sò, lấy xẻng xúc sò... Sau khi thả giã
xuống biển xong, thuyền lại bắt đầu tăng tốc quanh
khu vực có sò kéo chìm theo phía sau thuyền hàng chục mét
lưới giã đang bắt đầu cào. Chạy quanh khu vực mà máy
định vị báo có sò khoảng 15 phút, đồng hồ lúc này
đã chỉ đúng một giờ sáng. Giữa bốn bề là biển,
xung quanh là ánh sáng của hàng trăm thuyền đang thi nhau
kéo cá, câu mực, giã ghẹ. Trên thuyền những bạn
biển tranh thủ ăn cơm mà nhà thuyền đã nấu sẵn để
chuẩn bị cho chuyến làm việc vất vả. Cũng là câu ra
lệnh dứt khoát của anh tài công Long: "Thả neo, lên
cảo". Thuyền trôi chầm chậm rồi dừng hẳn,
tiếng máy thuyền thi nhau nổ vang, trong ánh đèn đêm tôi
cũng thấy rõ khói từ máy thuyền phun ra đen cả một vùng
biển. Cảo càng thu dây rút lưới giã lại thì tiếng máy
nổ càng lớn, khi dác thứ nhất cặp sát mạn thuyền tôi
cũng không còn "bản lĩnh" ngồi trong cabin kín
nữa. Thuyền càng lúc càng nghiêng một bên theo lưới sò.
Không nói ngoa chứ chính mắt tôi trông thấy một bên thành
thuyền tiếp giáp mặt nước và nước bắt đầu tràn vào
khoang, bên thành bên đây tôi chuẩn bị tư thế nếu có
gì bất trắc thì... nhảy xuống biển. Sức nặng của sò
làm chiếc thuyền bị mất cân đối, nghiêng hơn 45%.
Chỉ trừ anh tài công Tám Long đang điều khiển cảo
quay và tôi, còn lại tất cả mọi người có mặt trên
thuyền lúc này đều đến mỗi người một tay chụp lưới
sò phụ kéo vào khoang và dác sò thứ nhất ước khoảng
9 tạ cũng đã đưa được lên khoang, thuyền được
trả lại vị trí cân bằng. Nhìn nét mặt vẫn chưa
hết sợ của tôi, một bạn chài cười vang: "Mới
đi thấy sợ vậy thôi, chứ thuyền không dễ chìm đâu.
Còn nếu thấy nguy hiểm lắm thì tụi tui sẽ thả cảo
ra lại để sò xuống lại biển ngay". Sau khi thả lưới
xuống biển lại, thuyền tiếp tục chạy vòng vòng cào,
lúc này trên khoang không ai nói ai, mỗi người một công
việc, người thì hứng bao, người thì lấy xẻng xúc sò
vào bao, người thì vận chuyển những bao sò xuống boong
một cách hối hả để chuẩn bị cho dác thứ hai sắp
đến...
đến 1001 chuyện rủi ro
Sau
một lúc chạy quanh thuyền bắt đầu neo, cảo thứ hai
đang lên bỗng... bụp, cảo không còn rút được nữa mà
tự quay trả ngược dây lại, nguyên lưới sò từ từ
chìm lại xuống biển sâu. Dù giữa tiếng gió biển, nhưng
tôi vẫn nghe Tám Long thở dài: "lại hư cảo
rồi", nhìn vào khuôn mặt buồn của anh, như hiểu
được suy nghĩ của tôi anh phân bua: "hết hỏng máy
giữa chừng rồi đến hỏng cảo, nay lại hỏng, mới
vừa sửa hơn cả ba trăm nghìn đấy chứ, nhưng vừa
cảo có hai hôm nay lại tuôn răng nữa rồi, thiệt là...".
Miệng nói chân anh bước vào máy bộ đàm trong cabin
bấm số, âm thanh từ đầu kia vang lên trong máy:
"Ghe Tư Ngo đây... Tám Long đó hả, sao vậy?".
Chỉ một câu trả lời ngắn gọn của Tám Long: "Hư
cảo" thì không đầy 15 phút sau, thuyền của Tư Ngo
đã có mặt và cập sát thuyền của Tám Long. Trên
thuyền, Chín đã nhanh chóng mở xong dây cảo chuyền sang
thuyền bạn, sau khi móc dây vào cảo mình, máy thuyền Tư
Ngo bắt đầu nổ vang cố kéo dác sò nặng từ lòng
biển lên thuyền Tám Long, vì là cảo nằm trên thuyền
của Tư Ngo nhưng ròng rọc và lưới sò lại nằm bên
kia thuyền của Tám Long nên hai thuyền cứ tựa vào nhau
lấy thế nên tạo ra một lực lớn làm hai chiếc cứ
xoay vòng, cuối cùng bên đây cảo sò từ từ lên khỏi
mặt nước và đổ ập vào thuyền Tám Long. Như chuyện
thường tình, xong công việc cảo lấy lưới giúp
thuyền bạn, thuyền Tư Ngo lặng lẽ ra đi tiếp tục công
việc của mình. Như vậy trong chuyến thứ hai này
thuyền Tám Long mới chỉ được chưa đầy 30 bao sò
chứ không phải 100 bao như thường ngày, thuyền Tám Long
đành phải nhổ neo nhằm hướng Phan Thiết quay về cũng
là lúc hướng đông mặt trời đang bắt đầu hừng sáng.
Vẫn
biết dù nguồn sò vặn được thiên nhiên ban tặng ở
biển ta có nhiều đến chừng nào đi chăng nữa, nhưng
nếu riêng ở Phan Thiết bình quân gần 50 thuyền giã,
sau mỗi chuyến vào một lượt khoảng 300 tấn như thế
thì một ngày gần cũng sẽ phải cạn kiệt. Nhưng nhìn
nét mặt buồn buồn của Tám Long và mọi người trên
thuyền thì tôi hiểu nỗi vất vả và cảm thông hơn cho
những người dân bôn ba kiếm sống trên biển...
Nghề giã cào bay ở Bình Thuận
 |
|
Thuyền giã cào bay.
(ảnh: Ngọc Lân) |
Nghề giã cào (lưới kéo) là một nghề lâu đời, khá phổ biến ở nước
ta. Đặc điểm của nghề này là khai thác các loại hải sản sống
tầng đáy bao gồm tôm, cá, mực, ghẹ, ngoài ra còn có cả các loại
nhuyễn thể 2 mảnh vỏ sống ở nền đáy như ốc, sò, điệp… điều này
cho thấy nếu khai thác hợp lý chọn đúng ngư trường, đúng tuyến
khai thác thì sẽ cho năng suất, sản lượng cao, tránh ảnh hưởng
đến nguồn lợi thủy sản. Tuy nhiên, thực tế thời gian qua cho
thấy đây là loại nghề ảnh hưởng nhiều đến nguồn lợi, hệ sinh
thái đáy biển. Nhằm từng bước hạn chế những ảnh hưởng đó, ngư
dân tỉnh ta gần đây đã học tập và du nhập từ các thuyền nghề giã
của tỉnh Bình Định một loại nghề lưới giã mới mà kết cấu vàng
lưới, trang bị phao chì có sự thay đổi khác so với lưới giã cào
đáy truyền thống. Sự thay đổi này nhằm mục đích làm tăng khả
năng mở đứng miệng lưới, tăng lực nổi của lưới đảm bảo cho vàng
lưới khi hoạt động trong nước không cào sát đáy mà cách nền đáy
một khoảng cách nhất định nên đã hạn chế được sự ảnh hưởng đến
đáy biển - hệ sinh thái đáy. Ngoài ra tốc độ dắt lưới lớn, nên
khi làm việc vàng lưới hoạt động như “bay” trong nước. Vì vậy,
ngư dân thường gọi là nghề giã cào bay.
Tại 2 địa phương xã Hòa Phú (huyện Tuy Phong) và phường Mũi Né
(Tp Phan Thiết) đã có 26 cặp giã hoạt động nghề này, công suất
từ 45-200 CV/tàu. Theo bác Nguyễn Thử, một ngư dân ở thôn Phú
Hải, xã Hòa Phú (Tuy Phong) hiện có một cặp giã bay công suất 56
CV/tàu cho biết, thì đây là một nghề khai thác quanh năm (thường
hiệu quả vào vụ cá nam từ tháng 5 đến tháng 10) và ngư trường
khai thác chủ yếu kéo dài từ Hàm Tân cho đến Tuy Phong, độ sâu
10-50m nước.
Đây là loại nghề khai thác khá hiệu quả, đem lại thu nhập cao
cho nhiều ngư dân trong thời gian gần đây. Ông còn cho biết
thêm, chi phí bình quân cho một đôi giã bay của ông (công suất
56 CV/tàu) khai thác trong một chuyến biển 3 ngày, mỗi ngày 3
mẻ, mỗi mẻ 3,5 giờ thì mọi chi phí ước tính khoảng 6 triệu đồng.
Sau chuyến biển, sản lượng thu về đạt giá trị từ 12-14 triệu
đồng. Trừ chi phí, mỗi chuyến cặp giã của ông lãi được 6-8 triệu
đồng.
Đạt được hiệu quả trên, theo ông Thử thì đó là do vàng lưới có
sự điều chỉnh, thay đổi lại cho phù hợp với đặc điểm vùng biển
Bình Thuận. Sự thay đổi của nghề giã cào bay khác so với lưới
giã cào thông thường ở chỗ kết cấu vàng lưới và trang bị phao -
chì. Kết cấu lưới, trang bị phao chì có sự thay đổi đáng kể như
kích thước mắt lưới từ đụt lên đến thân - cánh lớn 2a = 25-180mm
(một số tàu lớn công suất trên 100CV ở phường Mũi Né - Phan
Thiết, thì kích thước mắt lưới lên đến phần cánh đến 240mm) đảm
bảo yêu cầu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, số lượng phao tăng gần
gấp đôi trong khi trọng lượng chì giảm rõ rệt (giảm gần 2/3 so
với trọng lượng chì của lưới giã thông thường cùng kích cỡ). Do
đó độ mở đứng của lưới tăng cao (vùng tác dụng của lưới từ hàm
chì đến hàm phao có thể lên đến 10m), ngoài ra tốc độ dắt lưới
lớn từ 4-5 hải lý/giờ nên khả năng cá thoát ra khỏi miệng lưới
là rất nhỏ. Vì vậy cho thấy, đây là loại nghề hoạt động hiệu
quả, cải thiện đáng kể thu nhập cho ngư dân. Tuy nhiên qua tình
hình thực tế, dưới góc độ khuyến ngư thấy có một số vấn đề cần
đặt ra như sau:
Nghề giã cào bay khai thác khá hiệu quả cần được khuyến khích
phát triển, nhân rộng. Tuy nhiên chỉ nên khuyến khích phát triển
các đôi tàu trên 90 CV khai thác tuyến xa bờ, từng bước hạn chế
tàu công suất dưới 90 CV.
Tàu thuyền công suất nhỏ (45-66 CV) hoạt động nghề giã cào bay ở
tuyến gần bờ (do khai thác cho sản lượng mực cao) sẽ gây ảnh
hưởng đến nguồn lợi hải sản, cần tăng cường công tác bảo vệ ngư
trường nguồn lợi.