|
Phan
Thiết là quê hương của cá, mắm ngon được cả nước
truyền tụng. Nhờ cá mắm nhiều mà có lắm cuộc tình
duyên mặn mà dí dỏm:
Cô kia bớt tóc cánh tiên
Ghe bầu đi cưới một thiên cá mòi
Chẳng tin giở thử ra coi
Rau răm ở dưới cá mòi ở trên
Ban đêm,
khí hậu thánh phố biển ở mảnh đất cực Nam Trung
bộ trong lành hơn với những làn gió biển mát rượi.
Dao một vòng Phan Thiết vào buổi tối, bạn khó có thể
bỏ qua chút hương vị đậm đà của những món ăn
miền biển được người dân bản xứ chế biến một cách
tin tế từ sản vật mà thiên nhiên đã ưu ái ban cho quê
hương Bình Thuận..
CÁ NỤC NƯỚNG
LÁ MƯỚP
Món cá nục nướng
lá mướp chỉ ở Bình Thuận mới ngon. Cá nục nướng lá
mướp ăn kèm bánh tráng, rau sống thì chẳng gì bằng.
Cá nục ở vùng duyên hải nước ta không hiếm, nơi nào
cũng có. Thường là tháng bảy âm lịch hằng năm trở lên,
cá nục mới thịt nhiều, nhất là cá nục sồ. Ngoài các
món ăn phổ biến như kho, nấu canh chua, hấp cuốn bánh
tráng... thì món cá nục nướng lá mướp chỉ ở Bình
Thuận mới có. Ngư dân cho biết mùa mưa cá nục sồ to
con, béo thịt, thơm ngon. Cũng có nhiều người khác
biết quy trình cách nướng cá nục bằng lá mướp, nhưng
khi kết thành món lại không ngon bằng dân bản địa.
Cá nục tươi sống rửa sạch, cắt bỏ đầu, lọc lấy
thịt rút xương. Ướp với một ít đường, muối, bột
ngọt, tỏi, ớt giã nhỏ, cho thật thấm. Chuẩn bị
sẵn lá mướp (lá mướp nào cũng được) nhưng được
lá mướp hương thì tốt hơn. Chọn lá mướp lành lặn
không bị sâu đục lỗ chỗ, rửa sạch để ráo nước
và lau khô. Trải chồng liền ba lớp lá, rồi đặt
thịt cá đã ướp lên gói lại. Cột chặt bằng dây
lạt hoặc dây chuối xé nhỏ. Sau đó xếp lên vỉ đem
đặt trên bếp than. Lò nướng đừng để nơi gió lùa
nhiều quá, đủ để lửa hừng là được. Không nên nướng
bằng than đá, sẽ hỏng cá. Có người đã nướng cá
bằng cồn hoặc hiện đại hơn nướng trên bếp gas, nướng
trong lò vi sóng nhưng không ngon bằng thứ than củi dân dã.
Khi nướng nên để lửa riu riu và trở cá đều tay, cá
mới chín đẹp. Nếu sơ ý một tí, cá cháy ngay. Hễ nhìn
thấy lá mướp vàng là cá đã chín một bên. Lúc đó hãy
trở bên kia, nướng cho cá chín hết.
Đem xuống gỡ lá mướp ra, ăn cùng với cơm nóng hoặc
bánh tráng nướng kèm rau sống, còn gì bằng! Nếu gặp
"tay nhậu", thì đây là món lai rai tuyệt chiêu,
còn rủi mà gặp dân phá mồi, nhiều lúc nướng không
kịp!
Khách
du lịch đến Bình Thuận đều quen món đặc sản này,
khi đã được thưởng thức, thì không thể nào quên
được.
MỲ
QUẢNG (PHAN THIẾT)
Nhắc đến
Quảng Nam là người ta liên tưởng tới món ăn rất đặc
trưng của vùng đất này, đó là mỳ Quảng. Mỳ Quảng
sinh từ đất Quảng đúng như tên gọi. Nó được coi là
món đặc sản dùng để mời khách, hay những cuộc vui
như giới thiệu nét văn hoá của người dân đất
Quảng. Mỳ được làm bằng bột gạo xay mịn, tráng thành
bánh, quét lớp dầu lạc mỏng, thái thành sợi. Nước dùng
được làm từ thịt gà, có nơi dùng thịt heo, tôm tươi.
Nước dùng của mỳ Quảng ít chứ không như nước phở
Bắc, nhưng rất ngọt và đậm đà. Rau sống ăn kèm thường
là rau thơm, bắp chuối non thái mỏng. Trước khi cho mỳ
vào bát, người ta lót xuống dưới một lớp rau sống,
rồi trải đều lên trên những sợi mỳ trắng. Nước
chan nóng sốt được chan đều với những miếng thịt gà
hay thịt heo, tôm béo ngậy, thơm lừng. Có thể cho thêm
ít hạt lạc rang chín vàng, ít tiêu, vài lát ớt, vắt múi
chanh, một chút mắm chiên... tùy theo khẩu vị. Những người
sành ăn mỳ Quảng còn yêu cầu thêm cái bánh tráng nướng
giòn, bóp vụn bỏ vào bát mỳ nóng hôi hổi, như thế
mới ngon. Ngày nay, do khẩu vị và nhu cầu của nhiều
thực khách đến từ bốn phương, người ta có thể điều
chỉnh một chút trong khâu chế biến như: cho thêm vào tô
mỳ một số loại nhân, rau sống hay gia vị khác, tuy nhiên
không phải vì thế mà làm mất đi hương vị tô mỳ
Quảng truyền thống.
MỰC MỘT NẮNG NƯỚNG

Mực
tươi nướng, còn gọi là mực một nắng nướng,
món đặc sản ngon nhất chỉ Bình Thuận mới có.
Du
khách trong và ngoài nước mỗi khi đến đây đều
không thể bỏ qua món ăn đặc biệt và mới
lạ này.
Mực
phải chọn những con vừa mang từ biển về còn
tươi rói, chỉ phơi sơ qua một nắng. Khi nướng,
mực vẫn giữ được độ tươi, thịt trắng thơm
và dẻo.
Thưởng
thức món mực tươi nướng, du khách sẽ cảm
nhận được cái nắng, cái gió và vị mặn
của biển Bình Thuận.
Hai
năm gần đây, người địa phương và du khách đến Phan
Thiết bắt đầu biết đến một món ăn hấp dẫn: Mực
nướng phơi một nắng. Du khách thường bảo nhau: "Đến
Phan Thiết mà chưa thưởng thức món mực một nắng thì
thật là hoài công!..."
Khác với các loại mực khô thông thường, mực một
nắng chỉ phơi duy nhất một lần nắng. Việc phơi mực
cũng là "kỹ thuật" làm sao để thân ngoài con
mực đã ráo hẳn nhưng bên trong thịt mực vẫn còn tươi
rói là đạt yêu cầu.
Theo những người chuyên nghề câu mực thì họ hàng nhà
mực gồm nhiều loại: mực lá, mực ống, mực tuộc,
mực ghim... nhưng chỉ có mực lá mới chế biến được
món mực một nắng ngon. Vì thế, người câu mực luôn
ưu tiên câu mực lá hơn là các loại mực khác.
Đi câu mực thường vào lúc 1 - 2 giờ sáng. Chiếc
thuyền lớn chở các "thúng" ra đến ngoài khơi
xa, người câu mực ngồi vào thuyền thúng và bắt đầu
công việc của mình. Dưới ánh sáng của bóng đèn tròn,
mực lá cứ tự tiến đến gần, người câu mực câu lên
khá dễ dàng. Khoảng thời gian câu mực kéo dài từ 2
giờ đêm đến 10 giờ sáng. Câu được con mực nào,
họ bỏ lên thuyền, có người chuyên lột da, xẻ mực và
treo mực thành hàng lên sợi dây căng sẵn. Lúc thuyền
cập bến thì mực lá cũng vừa khô qua một nắng, họ
chỉ việc cân hàng giao cho "mối" hoặc điểm
thu mua.
Trung bình, một con mực lá nặng từ 200 - 300g, có con
nặng 1kg. Giá cả tùy theo mực lớn bé.
Mực một nắng cần nướng kỹ trên lửa than liu riu, không
để lửa già. Con mực có mầu trắng tinh, khi nướng chín
chuyển sang mầu vàng. Lửa nướng vừa phải, con mực
sẽ chín, cả trong cả ngoài, bay tỏa mùi thơm ngọt
ngọt tự nhiên. Nếu để lửa già quá, con mực chỉ cháy
vàng bên ngoài, còn bên trong thịt vẫn sống.
Món mực một nắng không chấm với các loại nước
chấm nào khác ngoài tương ớt (cũng giống như mực khô
nướng). Khi ăn miếng mực ngọt lịm, mềm mềm, thơm
phức, hòa quyện với vị cay nồng của tương ớt.
Khách du lịch muốn mua mực một nắng đem về làm quà
cho người thân, bạn bè? Người bán sẽ lấy loại mực
một nắng (để ở tủ cấp đông) mà giao cho khách.
Cẩn thận hơn, nếu du khách có mang theo thùng xốp, đựng
đá, thì vận chuyển 5, 6 giờ đồng hồ mực vẫn tươi
ngon, nên mực một nắng là món khoái khẩu mỗi khi có
bạn ở xa đến chơi, món ăn đầu tiên thết khách bao
giờ cũng là món mực nướng một nắng. Bên đĩa mực
chín vàng, câu chuyện giữa chủ nhân và khách thêm
phần rôm rả. Nhìn khách thưởng thức, chủ nhân thầm
tự hào với hương vị quê nhà chỉ từ con mực lá đơn
sơ, nhưng qua tài chế biến, người vùng biển đã giới
thiệu với khách khắp các miền đất nước một món ăn
độc đáo vùng biển của Nam Trung Bộ.
ỐC VÚ
NÀNG
Biển miền trung có
nhiều bào nhuyễn thể và giang sơn của chúng là các
hải đảo ngoài xa khơi. Chúng bám sống vào các gành
đá quanh đảo và hàng năm, ngư dân, đánh bắt cung
cấp cho các nhà hàng và tiệm ăn một số lượng khá
lớn. Trong các loài nhuyễn thể nổi tiếng nhất, có
loại ốc mang tên "vú nàng". Tên mới nghe
thật lạ lẫm làm sao! Loại ốc này sinh sống nhiều
ở Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Cù lao Ré (Quảng Ngãi), đảo
Lao Câu và đảo Phú Quý (Bình Thuận)...
Ốc vú nàng có hình
dáng giống đôi gò bồng đảo của các cô gái dậy thì
căng tròn đầy sức sống. Hơn nữa, ốc vú nàng lớn
bằng kích cỡ "vú nàng thật", được bao bọc
bên ngoài lớp vỏ bằng xà cừ cứng chắc. Nếu dùng
cát xát vào vỏ thì toàn thân ốc ửng lên một mầu
hồng tuyệt đẹp và gợi cảm.
Ốc vú nàng có quanh năm nhưng chỉ xuất hiện nhiều vào
những ngày trăng tròn, sau đó chúng lặn mất dần để
rồi tái xuất hiện vào đầu mùa trăng theo một chu
kỳ nhất định.
Người bắt ốc phải chịu khó ngâm mình dưới nước
bơi vào các hang, dùng đèn soi rọi vào tận kẽ đá tách
từng con ốc đang bám chặt vào thành đá bằng lớp da
bụng mềm mại của nó.
Ốc đem về rửa sơ, xếp vào xoong nước đặt lên
bếp lò luộc chín. Thỉnh thoảng dùng đũa trở ốc để
cho thịt chín đều, sau đó vớt ra để nguội. Chỉ
cần lách mũi dao nhỏ nạy nhẹ là ta đã lấy được
một khối thịt ốc bung ra khỏi vỏ, đưa vào xoong nước
luộc rửa sạch, cắt bỏ hết những chỗ nhớt mầu
xanh xanh có vị đắng.
Thịt ốc thái mỏng (theo chiều dọc) đem trộn với da
heo hay thịt ba chỉ thái nhỏ, dưa chuột, rau răm, rau húng,
đậu phụng rang giã dập, chanh tươi, ớt chín, nước
mắm ngon sẽ có món gỏi ốc ngon tuyệt!
Gỏi ốc ăn với bánh tráng (bánh đa) nướng, chấm thêm
nước mắm gừng ăn mãi không chán. Hương vị gỏi
ốc thật đậm đà và khoái khẩu làm sao! Mùi thơm
của rau quyện với vị cay nồng của ớt, vị ngọt
ngọt của ốc cứ ngấm dần, ngấm dần...
Được thưởng thức món gỏi ốc vú nàng chắc chắn
các bạn sẽ nhớ mãi.
SÒ
ĐIỆP
Sò điệp có tên
khoa học là Chlamys Nobilis, họ pectinidae. Sò diệp sống
ở vùng biển có độ sâu khoảng 10 mét. Chúng sống
ở dưới đáy biển hoặc trong các rạn đá. Chúng thường
sống hợp lại thành những vùng, những vùng này thường
có ở dòng hải lưu chậm. Mà tiêu biểu là ở Hòn Rơm
và Rạng của tỉnh Bình Thuận. Ở quê tôi (Phan Rí) người
ta thường mướn các thợ lặn, lặn sâu xuống đáy
biển để hốt sò lên.
Sò diệp cùng loài
với sò lông, sò traị.. nhưng hình dạng thì khác nhau.
Sò điệp cũng gồm hai mảnh vỏ úp lại nhưng nó có
dạng hình rẻ quạt. Khi lấy dao cậy, tách vỏ sò ra
ta sẽ thấy bên trong gồm hai cái vành dài bao tròn
quanh cồi sò (hay còn gọi là thịt sò). Cồi sò là
phần ngon và qúi nhất của sò điệp. Cồi sò có vị
ngọt, tính mát, không độc.
Thường thường người ta cậy vỏ sò ra bỏ vỏ, lọc
những phần gan, mang sò ra một bên, chỉ còn lại cục
cồi đem ram khô hoặc có khi xào với thơm, dưa chuột,
hành tây... nhưng thông thường nhất vẫn là luộc
chấm mắm me, muối tiêu hoặc muối ớt. Tuy nhiên,
muốn ngon, ngọt và đặc biệt hơn thì nên đem nướng
trên bếp than. Bởi khi nướng con sò sẽ không bị ra nước
như luộc mà còn giữ lại "cái chất" rất
ngọt. Vả lại khi nướng sò điệp sẽ bay lên một mùi
thơm khiến người ta tiết dịch vị và không thể có
một mùi thơm của món ăn nào sánh nổi.
Đôi khi người ta còn lấy vành của sò điệp chà
sạch với muối cho hết nhớt rồi đem đi ram hoặc phơi
khô để dành cũng ngon tuyệt. Ngoài ra người ta còn
lấy gan, mang sò để làm thức ăn gia súc. Vỏ sò dùng
để lót sân, đắp đê, đấp mộ... rất thuận lợi
cho xứ đầy nắng, cát và gió này. Vỏ sò dùng để làm
vôi sử dụng trong nông nghiệp và công nghiệp. Nói
chung, sò điệp được tận dụng hết thảy, không
loại bỏ một phần nào dù là nhỏ nhất.
Những cái Tết nhộn nhịp, vui vẻ tưng bừng chính là
kết quả của những năm sò được mùa của quê tôi.
Chính những mùa sò diệp rộ lên ấy đã giúp cho
những ngư dân quê tôi đỡ những lo toan sau những ngày
nhọc nhằn lao khổ trên biển cả. Giải quyết công ăn
việc làm cho phụ nữ, trẻ em ở vùng biển này. Và
thu được một số lớn kim ngạch xuất khẩu cho tỉnh
Bình Thuận.
CÁ
MÒI DẦU - BÌNH THUẬN
Người dân ở
miền Nam đã từng thưởng thức vị thơm, ngon, béo
của những món ăn chế biến từ con cá mòi, loại cá
sống nhiều vùng biển Bình Thuận. Cá mòi có hai
chủng loại: trũng đất, trũng cờ, trũng là mít gọi
chung cá mòi "trũng" - Cá "ranh" (cá con
lớn lên) "xanh bầu" giữa cá ranh và cá lớn có
nhiều dầu gọi là cá dầu (Nematolosa Nasus).
Cá mòi dầu ở Bình
Thuận được chế biến thành những món ăn vô cùng độc
đáo qua món canh nấu với dưa hồng (dưa hấu trái
nhỏ), bầu, mướp. Muối sương (lạt) đem nướng ăn
với cơm nguội. Rán (không cần mỡ) còn lấy ra được
dầu cá để chan cơm ăn. Hấp ăn với bánh tráng nhúng
nước cuốn rau sống chấm mắm nêm hay nước mắm giã.
Cá mòi đem hầm măng khô là món ăn thuần túy ở mọi
nhà trong những ngày lễ Tết.
Người ta còn thi vị hoá cá mòi qua món mắm. Cá đem
muối, khi chín lấy ra ăn sống hay chưng (cách thủy).
Thông thường cá được muối trong thời gian 60 ngày thì
vớt ra lấy nước muối để rửa cá, đánh vẩy xong
đem thính (bắp rang trộn muối giã nhuyển) xấp trong
lu nhỏ mỗi lớp cá là một lớp lá cây vông (lá gói
nem). Mắm mòi ăn với bánh hỏi, cuốn bánh tráng rau
sống, khế chua, cà tím...
Do có nhiều chất béo nên ngòai việc chế biến thành
những món ăn tính độc đáo, người ta còn lấy ra
được trong c'a mòi một lượng dầu đáng kể qua cách
muối, kho hoặc hấp. Dầu cá mòi có công dụng để ngâm
thịt cá, làm mỡ ăn và thắp đèn thay nến. Trong
xuất khẩu, người ta lấy dầu cá mòi làm nhiên liệu
thuộc da, pha sơn, chế biến xà phòng.
Nước mắm cá mòi ngon thơm và béo hơn cả các loại cá
khác như cá tạp, cá nục dùng trong sản xuất nước
mắm. Thường người ta để hơi ươn rồi mới ướp
muối, xác cá mòi muối và hấp sau khi lấy hết dầu
đem bán ở vùng cao và các tỉnh đồng bằng Nam Bộ đều
có giá trị kinh tế cao.
RONG BIỂN BÌNH
THUẬN
Theo
nhiều nhà khoa học trên thế giới, rong biển - loại
thực vật bậc cao sống "ngâm mình" dưới nước
sẽ là nguồn thực phẩm chủ yếu giúp loài người thoát
khỏi nạn đói trong nhiều thập kỷ tới. Các nhà chuyên
môn sau khi nghiên cứu, thử nghiệm, đã kết luận rằng
rong biển Bình Thuận nói riêng và rong biển Việt Nam nói
chung là loại nguyên liệu tốt để chế biến thành
thạch đông (sương sa).
Biển Bình Thuận có nhiều loại rong: rong đông sương,
rong cỏ ống, rong chân vịt, rong câu (rau câu), rau sa, rau
sói. Theo chu kỳ hàng năm, rong Đông sương có từ tháng
8 đến tháng 10 âm lịch ở vùng đầm lầy nước lợ
thuộc huyện Bắc Bình. Rong cỏ ống, rong chân vịt và các
loại rau câu khác xuất hiện vào khoảng từ tháng 7 đến
tháng 2 âm lịch năm sau, nhiều nhất ở vùng biển Vĩnh
Hoà, Chí Công, Mũi Né, Phan Thiết.
Ngư dân nghề biển lấy rong với nhiều cách khác nhau,
gọi "bức" hay "nhổ" rong. Cặp kính bơi,
chiếc phao con cùng túi lưới đeo thắt ngang lưng là
những dụng cụ thông thường để đi lấy rong. Với
rong Đông sương thì lấy ở mực nước ròng. Rong cỏ
ống, chân vịt, rau câu và rau câu chỉ - loại sống bám
chặt ở kẹt đá ngầm - muốn nhổ phải trầm mình dưới
nước khá lâu, dùng dao để cạy. Rau sói trôi theo dòng
nước, tấp vào bờ, người ta chỉ việc nhặt lấy mang
về "giặt" sạch hết cát dính, phơi khô đem tiêu
thụ.
Vùng biển Bình Thuận còn có loại rong từ trong khe đá
mọc ra từng chùm to lớn, cả người ôm không hết. Rong
này có cành nhánh dính liền nhiều nụ bông búp màu vàng,
người địa phương gọi là rau mơ. Do những trận bão
tố, "mơ" nổi lềnh bềnh khắp một vùng mặt
biển, xen lẫn vào lưới đánh bắt của ngư dân, hoặc
nằm phơi mình trên bãi cát sau khi nước thuỷ triều rút
xuống, nên thường gọi Tố giựt mơ.
Ở đây, người lấy rong hoạt động hầu như quanh năm,
cũng bằng lối thủ công, rong được ép sau khi giặt
sạch để bán. Bình Thuận tiềm tàng sức hấp dẫn kinh
tế đáng kể: Phát triển nghề nuôi trồng, chế biến
rong.
CANH CHUA HAI MỌI
Mỗi
chúng ta ai cũng có một miền quê để nhớ, nhất là
những năm tháng tha phương ở những ngày Xuân về, Tết
đến. Một vùng quê ấm áp kỷ niệm êm đềm. Một dòng
sông, chiếc cầu, con đê, một đường phố, mái đình
cổ kính, một món ăn đậm đà hương vị quê hương...
Mời các bạn hãy đến với Phan Thiết, một vùng phố
biển dồi dào nguồn tôm cá. vô số thức ăn chế biến
từ nguồn hải sản phong phú, dư vị của món canh chua
mang tên người chủ tiệm ăn nổi tiếng nơi đây sẽ mãi
là niềm thích thú trong chuyến đi tham quan của bạn. Đó
là canh chua Hai Mọi.
Hơn một trăm năm về trước, ở cái xã Châu Thành Phan
Thiết nhỏ bé này, hầu hết các tiệm ăn đều do người
Hoa làm chủ, nhưng nếu nói về truyền thống nghề nấu
ăn thì phải kể đến cụ Hai Mọi. Một tiệm cơm nhỏ
thôi mà là nơi lui tới của biết bao nhà kinh doanh tầm
cỡ, đào kép lừng danh của các gánh hát cải lương Sài
Gòn, các danh thủ thể thao như: đá banh, đua xe đạp, đánh
"bốc", đua ngựa và có cả những chàng công
tử Bạc Liêu, thậm chí cả những tay đánh bạc lừng
danh một thời... đều đến để thưởng thức những món
ăn đặc sản vùng biển Bình Thuận, món nước mắm Phan
Thiết, và đặc biệt là món canh chua độc đáo này.
Cá dứa vùng biển Bình Thuận là nguyên liệu chính của
món canh chua Hai Mọi. Nhiều chục năm liền đứng bếp
nấu món canh chua, người ông của ông chủ nhà hàng Kim
Anh Quán ngày nay không hề thấy trứng trong bụng loài cá
này mà chỉ thấy toàn là mỡ và mỡ. Ngày nay, giống cá
dứa không còn nhiều như ngày xưa. Rất lâu rồi người
ta không thấy bóng dáng cá dứa ở chợ Phan Thiết. Ở
miền Tây Nam bộ có loại cá bông lao béo tợn, đem nấu
canh chua cũng ngon, nhưng theo người sành điệu thì vẫn
không ngon bằng cá dứa. Phải chăng nó thiếu chất mặn
mòi của vùng biển Phan Thiết.
Còn tô canh chua Hai Mọi thì sao? Người ăn ngồi chưa nóng
chỗ, tô canh đã được mang lên nóng hổi, mùi thơm gia
vị bốc lên gợi thèm. Nước canh nguội dần theo bữa
ăn, các chất vitamin lắng xuống đáy tô để rồi trước
khi kết thúc, dùng muỗng múc một ít nước húp một cái
ọt, mắt lim dim tận hưởng hương vị đậm đà của
xứ biển mà thích thú đê mê.
NƯỚC MẮM NHĨ PHAN THIẾT
Màu vàng
nhạt, hương vị đậm đà, hậu vị ngòn ngọt của
chất đạm _ nước mắm Phan Thiết không chỉ "Tam
kỳ lục tỉnh ai dùng cũng khen" mà vang danh toàn cõi
Ðông Dương, sang tận trời Tây với sự kiện nước
mắm Phan Thiết được Công ty Liên Thành mang nhãn hiệu
Con Voi tham gia cuộc đấu xảo quốc tế tại Marseille (Pháp)
vào năm 1922. Kể từ đó, nước mắm Phan Thiết đã vượt
Ðại Tây Dương, có mặt ở nhiều nước châu Âu.
Bình
Thuận có nhiều loại hải sản thu hút khách du
lịch. Đã đến đây rồi thì không thể không
mua về cho gia đình và bạn bè những món quà
mang đậm hương vị biển như: sò điệp phơi khô,
mực phơi héo và đặc biệt là nước mắm. Nước
mắm Phan Thiết có hương vị thơm ngon với độ
đạm cao và là món nước chấm không thể
thiếu trong bữa cơm của người Việt Nam.
Những thương hiệu nước mắm như Mũi Né, Liên
Hương, Con Cá Vàng.. ngày càng tạo được tín
nhiệm cho người tiêu dùng.
Sau
chuyến đi, trước khi về , bạn có thể ghé
quầy bán hàng đặc sản để mua quà về cho người
thân. Một chai nước mắm cá cơm loại ngon,
mấy trái thanh long hoặc vài gói bánh rế, bánh
cốm là đã đủ để người thân của bạn
cảm nhận và thưởng thức hương vị biển Bình
Thuận được trọn vẹn... .
 
CHÁO
CUA HUỲNH ĐẾ
Cua huỳnh đế là đặc sản của vùng biển Bình Thuận.
Cua huỳnh đế có màu đỏ hồng, mai hình vuông, càng và
que ngắn. Ðặc biệt, đầu cua dài và có nhiều râu...
Cua huỳnh đế có quanh năm nhưng rộ nhất là tháng
chạp Âm lịch. Ðây cũng là thời gian mà cua ngon nhất:
to, chắc thịt và gạch cua nở đầy mai. Cua huỳnh đế
luộc chấm muối tiêu chanh ăn rất ngon, nhưng ngon nhất
phải kể đến món cháo. Cua hùynh đế rửa sạch
cho vào một cái tô lớn rồi đem hấp để giữ nguyên
chất ngọt. Xong, tách mai ra dùng muỗng nạo hết gạch
để vào một tô riêng. Phần càng que được ráy thịt
đổ vào tô khác để ướp nước mắm ngon, tiêu hành,
bột ngọt...Kế tiếp bắc một chảo dầu lên, phi hành
củ cho thơm, nhỏ lửa cho thịt cua vào và đồ đều cho
thịt thấm. Khi cháo nhừ cho thịt cua vào và để sôi vài
dạo. Ðổ tô gạch cua sau cùng. Nêm cho vừa ăn và cho thêm
nửa củ hành tây lát mỏng cùng lá hành, ngò xắt nhỏ.
Nhấc xuống và cho thêm tiêu vào.
Nồi cháo cua huỳnh đế ngon phải có lớp mỡ hành vàng
sánh ở trên, lẫn với nước gạch màu đỏ cùng những
thớ thịt màu trắng của cua. Húp từng muỗng cháo nóng
mới ngon làm sao! Mùi thơm đặc trưng xông vào mũi cùng
hơi nóng phả vào mặt. Ăn hết tô cháo, mồ hôi vã cả
người, nghe khỏe ra.
BÁNH
QUAI VẠC XỨ BIỂN

Bánh quai vạc
đã có từ ngàn xưa. Hồi ông tôi tám mươi tuổi, ông
cho biết, thời còn niên thiếu các cụ rất
"nghiền" món ăn này. Một món ăn bình dân mà người
dân Phan Thiết dù ở nơi đâu cũng không quên được hương
vị hấp dẫn của nó.
Chất dai dai của bánh quai vạc - đã thành quen thuộc
với bất cứ người nào một lần thưởng thức - phải
được làm từ bột mì tinh (lọc). Trước tiên là chế
nước sôi lấy trùng, sao cho bột vừa chín tới. Nhồi
bột đến khi mềm dẻo, cắt từng phân nhỏ cỡ viên
bi. Dùng chai thuỷ tinh cán mỏng tạo nên miếng vỏ bột
trong đều. Tôm biển tươi rói, rửa sạch cắt bỏ đầu.
Loại lớn con, cắt làm ba, làm tư; còn tôm nhỏ thì để
nguyên. Thịt ba rọi cũng cắt bằng cỡ miếng tôm ấy.
Tất cả trộn chung, cho ít nước mắm, muối tiêu, đường,
đem xào chín, vị vừa miệng. Xong gắp nhân bỏ vào
giữa miếng bột đã cán mỏng, xếp đôi lại từng
chiếc bánh. Cho vào nồi nước sôi đun sắn, khi thấy
bột trong là bánh đã chín, vớt ra rổ để ráo nước.
Láng qua một ít dầu ăn, bánh sẽ không bị dính vào
nhau, rồi rải hành lá cắt nhỏ lên bánh, tăng thêm màu
vị.
Pha nước chấm hơi đặc với nguyên liệu chủ yếu là
nước mắm, đường cát, ớt xiêm cắt lát mỏng, nêm
nếm cho hợp khẩu vị. Gắp bánh bày lên đĩa, kèm vài
lát chanh bên cạnh chén hành củ, tóp mỡ phi vàng. Khi ăn
cho bánh vào chén, rắc hành phi mỡ với nước chấm, tí
chanh và nâng chén. Nhai từ từ sẽ tận hưởng cái vị
ngòn ngọt, dai dai, béo béo, cay cay, mà ngon đáo để.
Có dịp đến thành phố Phan Thiết, du khách hãy thưởng
thức món bánh quai vạc, chắc sẽ không bao giờ quên
được hương vị riêng biệt của món ăn dân dã xứ
biển. Nếu cao hứng, bạn "phôn" cho tôi một
tiếng, có khi tôi cũng xin đến hầu chuyện bạn cho...
vui!
CHÁO
HÀU PHAN THIẾT
Nếu
có dịp về Phan Thiết, mời các bạn thưởng thức các
món ăn đặc sản biển của Bình Thuận. Có người
bảo: “Chẳng cần “sơn hào hải vị” chi cả, cứ
gọi một bữa cháo hàu là khoái nhất” quả thật
chẳng sai. Từ thành phố Phan Thiết, hướng ra Mũi Né,
đi khoảng mười cây số là đến khu vực Đá Ông Địa.
Tại đây có rất nhiều quán ăn luôn sẵn sàng phục
vụ quý khách các món đặc sản biển, đặc biệt nhất
là món cháo hàu. TạI đây, món cháo hàu gọI lúc nào cũng
có, vì con hào khai thác được quanh năm ở rạn đá
cửa sông nước lợ và vùng biển. Nhưng muốn thưởng
thức nó , bạn phảI tớI những tiệm ăn “chuyên
nghiệp” hảI sản. Miếng bí truyền là cháo nấu sanh sánh
nhừ tơi, chỉ những chủ tiệm ăn sành điệu mớI
biết. Cháo chín bưng lên còn nóng hổI, mùi hàu thơm
phức, dễ ai chịu được thèm! Có nơi dọn cháo từng
chén cho mỗI thực khách. Noi khác lạI đặt một tô cháo
to giữa bàn, mỗI khách tùy sức ăn mà múc vào chén. Món
ăn này phảI ăn nóng mớI tuyệt chiêu.
CỐM
HỘC PHAN THIẾT
Đây
là thứ quà vừa ngon vừa rẻ không chỉ nổi tiếng ở
Phan Thiết mà hiện nay nhiều người cũng biết đến đặc
sản này. Cốm hộc được làm từ gạo nếp ngon rang
nở bung (còn gọi là nổ) và đường sên dứa, gừng.
Cốm hộc làm với đường cát. Có nhà thích chế biến
với đường tán hơn. Phụ liệu thêm phần hấp dẫn
nữa là gừng và thơm (dứa). Gừng lột vỏ, rửa sạch
để ráo nước rồi mang đi giã vừa nát. Trái thơm gọt
vỏ, bỏ mắt, xắt từng miếng nhỏ, mỏng. Cho đường
lên bếp lửa để thắng với tỷ lệ: 10 kg đường
bằng 2 chén nước trộn với 8 kg nổ. Lúc thắng đường,
vắt một trái chanh cho vào để khỏi lại đường.
Đường sôi khoảng 2 phút, dùng chiếc đũa thử thấy
đường kéo lên thành dây là được. Trước khi nhắc
đường xuống, cho gừng và dứa vào, đợi nguội hẳn
rồi đổ vào thau nổ, trộn đều khoảng 20-30 phút rồi
bắt đầu công đoạn đóng cốm.
Khuôn cốm là những hộc gỗ vuông, hai bề mặt rỗng, có
thêm một miếng gỗ rời để khi đóng cốm họ dùng
miếng gỗ này ép nổ xuống cho cốm chặt và bằng
phẳng. Cẩn thận hơn, trước lúc đóng cốm, một người
xúc nổ vào chiếc cân, cân đúng trọng lượng rồi cho
vào từng cái rổ nhỏ còn người đóng cốm cứ lấy
từng rổ nổ đó mà cho vào hộc đóng. Thường thì
thanh niên lo việc đóng cốm, họ dùng sức đẩy cây đòn
tay dài, ấn mạnh xuống hộc cốm. Miếng cốm vuông
vức một khối thành hình, được nhấn xuống, đưa ra
khỏi hộc, tiếp tục đóng các hộp khác.
Hộc cốm được chuyền đến tay một người khác cạnh
đó. Công việc của người này khá đơn giản, chỉ
với một tấm thớt và một con dao. Với động tác nhanh,
gọn, họ đặt miếng cốm lên tấm thớt nhỏ, dùng con
dao bén gọt bỏ những cốm không đều ở bốn cạnh, để
hộc cốm được vuông vức.
Tiếp đến là phần phơi cốm. Từng hộc để đều
trong một cái nia tre lớn, đem phơi 1-2 lần nắng cho
cốm thật khô. Lúc phơi, họ chuẩn bị những tấm vải
mùng để phủ lên các nia, tránh bụi bặm, ruồi nhặng.
Cốm đã khô, đưa qua công đoạn sau cùng: bao gói.
Những tờ giấy màu, giấy bóng kính, giấy hoa văn đủ
mầu sắc được sử dụng bao hộc cốm. Bằng động tác
nhanh nhẹn, đôi tay khéo léo, họ cắt giấy vừa vặn
với hộc cốm để gói thật thẳng nếp. Ở hai đầu
hộc, trang trí hai hoa giấy (loại hoa dán hộp quà) để
trưng bày lên bàn thờ ông bà hay trưng bán tại các
sạp cho đẹp mắt.
Cốm hộc để được khá lâu, 1-3 tháng, khi dùng, lấy
dao cắt thành 4 hay 6 miếng, ăn vào mùi vị vẫn thơm
ngon như khi mới làm.
Một hộc cốm khá rẻ, chỉ có 4.000 đồng hộc lớn và
3.000 đồng hộc nhỏ. Chợ Phan Thiết có bán hạt nổ làm
cốm. Họ rang sẵn lúa nếp thành những hạt nổ, cho vào
từng bao lớn, mỗi bao khoảng 10-15 kg nổ rồi chở ra
chợ bán với giá 7.000-10.000 đồng/kg tùy nếp thường
hay nếp ngon. Người mua chỉ việc sên đường, đóng và
gói cốm rất tiện lợi.
GHẸ BÌNH
THUẬN
Ghẹ
là động vật ở nước, chân có đốt, có mai và nhiều
càng dài thường bò ngang giống với loài cua biển (Crabe
de Mer). Ghẹ sinh sống và không ngừng phát triển nhờ vào
nguồn lương thực chủ yếu từ thân xác mục rã của
loài hào, hến trôi nổi quanh hang, kẹt đá ngầm, đất
sỏi dọc theo vùng hải phận tỉnh Bình Thuận.
Hàng năm, từ tháng 3 - 4 âm lịch, thời kỳ trứng nở
ra con nằm dưới yếm ghẹ mái, dần dần ghẹ con rời
khỏi yếm mẹ để tự sống riêng. Ngư dân xóm Câu - xóm
Ghẹ thuộc phường Lạc Đạo, Đức Long thành phố Phan
Thiết xưa nay vốn có nghề truyền thống đánh bắt
ghẹ. Người ta dùng lưới ghẹ loại đan cước nylon 30,
đường kính lỗ khoảng 6cm, bề ngang của lưới từ
phao nổi đến chì ngầm là 1m với chiều dài lưới là
5.000m để có thể giăng khắp một vùng rộng lớn. Từ
khi ra khơi đánh bắt ghẹ đến việc kéo lưới lên ghe
trở vào bờ thường phải mất thời gian trên dưới 10
tiếng đồng hồ và chấm dứt một lần trong ngày mùa
thu hoạch. Ghẹ ở Bình Thuận bán dưới hình thức cân
từng con, cứ 300 gr thì giá khoảng 50.000 đồng/kg, và
từ 250 gr trở xuống thì giá chỉ còn khoảng 15.000 -
20.000 đồng/kg. Thời điểm ghẹ hiếm do trái mùa thì giá
có khi lên đến 100.000 đồng /kg. Các nhà hàng tranh nhau
mua với giá 120.000 đồng/kg là chuyện bình thường.
Con ghẹ khi còn sống có màu xanh sẫm, nhưng khi
luộc chín thì chuyển sang màu đỏ gạch trong rất bắt
mắt. Người địa phương lấy ghẹ chấm muối ớt làm
món ăn đặc sản bình dân nhất. Với món ghẹ um thì người
ta tách mu ghẹ, cạy lấy gạch bên trong để riêng, thân
được chặt từng khúc tùy ghẹ lớn nhỏ và bỏ đi các
đầu chân nhọn.Giã hành tiêu tỏi ớt, trộn bột ngọt,
muối và đường để sẵn. Đặt chảo nóng lên lò, bỏ
dầu ăn và chờ sôi thì khử tỏi thơm đều. Đoạn bỏ
ghẹ vào trộn đều trước khi trút hết gia vị đã giã
rồi trộn lần 2 khoảng độ 5 phút. Đến đây, bột mì
tây được đánh nước loãng đổ vào trộn đều lần
cuối, xong đậy nắp lại. Mười phút sau thì nhắc
xuống, rắc thêm vài cọng hành, ngò thái nhỏ là đã hoàn
thành món ghẹ um đầy hấp dẫn.
BÁNH
RẾ
Bánh có có mầu nâu đỏ,
hơi giống mầu cánh gián, hình dáng giống thứ đồ mà
người ta dùng để đặt xoong, nồi nhưng nhỏ nhắn hơn
rất nhiều, với vô số những sợi rất mảnh xoắn xuýt,
đan bện vào nhau. Bánh rế xuất xứ từ vùng Phan
Thiết, Phan Rang.
Để làm bánh rế việc đầu tiên là lột củ mì
(sắn), gọt vỏ củ khoai lang. Rồi sò (bào) thành sợi.
Do quá mỏng và dài nên những sợi củ ấy quấn lấy
nhau. Cái độc đáo của bánh nằm ở chỗ đó.
Khuôn để đổ bánh tựa như là cái vá (môi) múc canh.
Dầu phải đổ cả chảo cho ngập bánh và phải để cho
sôi mới bỏ sợi củ lang, củ mì vào khuôn. Bỏ thật
nhanh tay và cũng phải rất nhanh tay để ép từng búi
sợi xuống khuôn và dàn cho thật mỏng. Rưới đường
đã sên sẵn, ngay khi vừa vớt ra.
Những chiếc bánh được xếp chồng lên nhau, khi đã
nguội, y hệt như đồ chơi con nít. Nhìn, rất thích mà
ăn lại càng thích hơn. Bánh cho ta một hương vị rất là
đặc biệt. Đó là sự hòa lẫn, quyện chặt của một
hỗn hợp những hương vị: cái bùi bùi của tinh bột, cái
beo béo của dầu, cái ngon ngọt của đường mật và không
thể thiếu độ giòn tan.
BÁNH
CĂN
Ai
đã từng trải qua thời niên thiếu và trưởng thành trên
mảnh đất Nam Trung bộ chói chang nắng, lồng lộng gió
và mù mịt cát; ai đã từng rong ruổi suốt nẻo đường
từ Khánh Hòa vào Bình Thuận Thuận, đến quê tôi - Phan Thiết, đều không thể quên được một món ăn đậm
đà hương vị quê hương: bánh căn.
Ngày xưa, khi tôi còn bé thơ, mẹ thường kẽo
kẹt đưa võng ru tôi ngủ bằng câu ca:
"À...
ơi...
Ai ơi nhớ đến Phan Thiết
Món ăn ngon nhất bánh căn, bánh xèo"
Mãi sau này, khi lớn lên, tôi
cứ hỏi mẹ: "Tại sao gọi là bánh căn?". Mẹ
đáp: "Có lẽ là bánh căng mới đúng. Vì bánh chín,
cứ căng phồng lên".
Ðể đổ bánh căn, người ta dùng một lò đất
nung, thân tròn, đáy bầu dục gồm 3 phần: phần nắp hình
tròn, gọi là khuôn bánh (ổ bánh); mặt ổ khoét 10 lỗ
tròn đều nhau, trên đó đặt 10 chén đất cạn đáy, có
nắp đậy; phần thân lò để chứa than hồng, có lỗ thông
gió; phần đáy lò ngăn cách với thân lò bằng 1 vỉ đục
lỗ để tro than rơi xuống đáy lò.
Ở
Phan Thiết, có những hàng bánh căn nổi tiếng vài chục
năm nay ở đường Lê Hồng Phong, đường Tuyên Quang (người
dân tại Phan Thiết quen gọi đây là đường "sương
mù"..., pha mắm thuộc loại "bậc thầy".
Bởi thế, nhiều người Phan Thiết xa quê lâu ngày cứ
xuýt xoa thèm được nếm lại chén nước chấm bánh căn
- hương vị quê hương. Một lý do nữa để người ta
nhớ món bánh căn là hành mỡ.
Nhiều người cho rằng làm hành mỡ dễ ợt: chỉ việc
phi hành lá thái nhỏ với tóp mỡ là xong ngay. Nhưng
thật ra, pha hành mỡ là cả một nghệ thuật làm gia
vị. Vị hành mỡ ở Phan Thiết quê tôi rất riêng. Người
miệt tôi xa quê cứ thấy nhớ, thấy thèm cái vị hành
mỡ không béo ngầy ngậy như vẫn thấy trong một số món
ăn của các nơi khác; miếng tóp mỡ mỏng tang, giòn
rụm. Chút hành lá đưa ngay đầu lưỡi đã nghe vị thơm
dịu, không đắng, không hăng. Nếm rồi vẫn thấy thòm
thèm.
Bánh căn rẻ tiền, lạ miệng, rất hợp với túi tiền
của người lao động nghèo. Giá một đĩa bánh chỉ
bằng giá của một tô phở nhưng hương vị đậm đà,
dễ lôi cuốn thực khách từ ăn chơi đến ăn no bụng.
Nguyên liệu để làm bánh căn là gạo tẻ ngâm nước
rồi đem xay thành bột loãng giống như bột đổ bánh bèo
hay bánh xèo. Trước khi đổ bánh, muốn cho bánh được
thơm ngon người làm bánh bỏ vào một ít lá hẹ hay lá
hành thái nhỏ. Khuôn đổ bánh giống như chiếc chõ rang
làm bằng đất sét nung chín, trên mặt có khoét chín ô
tròn hình lõm, to bằng miệng tách uống trà, bên trên có
nắp đậy cũng bằng đất nung và có núm cho dễ cầm.
Khuôn bánh đặt trên lò than hồng. Mỗi lần đổ bột vào
khuôn, người thợ đúc bánh dùng cây que đầu có quấn
bông nhúng vào đĩa dầu phụng hay đĩa mỡ heo thoa lên
mặt khuôn để cho bánh róc lúc chín dễ bóc ra, không
bị dính.
Nên ăn ngay khi bánh còn nóng hổi, như thế mới ngon. Tuy
nhiên, ăn bánh căn ngon nhiều hay ít còn phụ thuộc vào
nước chan.
Thường thường người ta dùng nước cá có chế biến
thêm gia vị hoặc có nơi thì dùng nước mắm pha thêm
đường cát trắng nấu sôi cho thêm cà chua phi dầu
phụng, ớt và chanh tươi... Bánh ăn kèm với rau sống,
khế lát, chuối xanh thái mỏng, dưa chuột, rau răm, rau húng,
giá chần, xà lách...
Ðổ bánh căn là một "nghệ". Muốn "tinh"
nghệ này, cần phải biết kết hợp sự kiên nhẫn, tinh
tế, nhanh nhẹn và... giỏi chịu nóng! Tôi nhớ ngày còn
thơ ấu, có dịp, mẹ và chị tôi phải thay phiên nhau đổ
bánh căn cho cả nhà ăn. Khi các chén đất đã thật nóng,
khuấy đều bột và dùng chiếc vá múc bột đổ vào
từng chén. Thao tác này cần nhanh và chỉ đổ bột
khoảng phân nửa chén đất, để bánh nở căng đầy chén
là vừa. Người quen nghề chỉ cần múc một vá cũng đổ
đủ vào 10 chén đất. Bánh chín rất nhanh. Một chiếc bánh
căn tinh tế và ngon mắt phải nở vừa chén đất,
trắng nuột và xốp, có lỗ bọt li ti trên mặt bánh.
Vỏ bánh phải vàng ruộm và giòn rụm. Vừa giòn, vừa
xốp, vừa dẻo.
Hầu như mọi người dân bình dị quê tôi đều đổ bánh
căn đơn giản và rất ít tốn tiền như thế. Những người
rủng rỉnh tiền bạc hơn, có thể đổ bánh căn mực
hoặc bánh căn trứng. Mực ống tươi vốn là đặc sản
của vùng duyên hải. Chọn mực nhỏ, rửa sạch. Sau khi
đổ bột, cho vào mỗi chén một con mực. Khi bánh chín,
mực cũng vừa chín, điểm thêm màu tím phớt hồng cho
chiếc bánh, trông thật ý vị và ngon mắt. Cách đổ bánh
trứng cũng tương tự. Ðổ bột xong, cho trứng đã đánh
nổi lên mặt bột.
Nhón đũa gắp chiếc bánh nhỏ chấm phá ít hành mỡ
xanh trên mặt cho vào chén nước chấm. Tinh tế và ý
vị biết bao sắc trắng của chiếc bánh lấm tấm hành
xanh, tóp mỡ vàng trong nền đỏ thẫm của nước chấm!
Những sắc màu đó "bắt mắt" thực khách,
khiến chưa ăn đã thấy thòm thèm. Ðưa miếng bánh lên
miệng, đã nghe vị bột dẻo, xốp pha vị hành chấm dìu
dịu, cái giòn tan của vỏ bánh pha lẫn cái giòn rụm mà
không ngậy của tóp mỡ, tất cả tan trong hớp nước
chấm đậm đà, sóng sánh. Chỉ một loáng, đĩa bánh
chục cái đã sạch trơn trong sự cảm nhận hương vị hòa
lẫn thật đặc biệt: béo, giòn, xốp, dẻo, mặn, ngọt,
chua, cay, thơm dịu.
Dù có đi khắp chân trời góc biển cũng không tìm được
món ăn nào có hương vị giống như món bánh căn quê tôi.
Ðơn giản và mộc mạc, nhưng từ lâu chiếc bánh căn đã
đi vào ký ức của người dân Nam Trung bộ, đâu đâu
trong nỗi nhớ khi xa xứ và len cả vào trong giấc ngủ
của họ - những người một đời chở nặng hồn quê hương.
BÁNH
XÈO
Tuyên
Quang - con đường mang tên một tỉnh kết nghĩa với Bình
Thuận ngày nay đã trở nên sầm uất bởi sự buôn bán
tấp nập cả ngày lẫn đêm. Đây là nơi tập trung rất
nhiều quán ăn bình dân và được nhiều người biết đến
bởi món “bánh xèo Tuyên Quang”, nhưng kỳ thực đó
lại là món ăn ngon được hình thành từ bao đời nay
bởi bàn tay khéo léo của người phụ nữ Phan Thiết.
Buổi tối, con đường này tỏa đầy mùi vị thơm ngon
tỏa ra từ những hàng bánh xèo ở hai bên đường,
chiếc bánh xèo được đúc trong một loại khuôn đất
do người Chăm ở Bình Thuận sản xuất có kiểu dáng
rất đặc biệt, khác với các loại chảo làm bánh xèo
ở các nơi. Những quán bánh xèo làm bánh từ hỗn hợp
bột gạo và ngũ cốc mà người khác rất khó biết được
công thức pha chế bởi đó là... bí quyết nghề nghiệp
riêng của họ, chỉ biết rằng chiếc bánh bao giờ cũng
đảm bảo yêu cầu giòn, xốp và đặc biệt là rất thơm.
Riêng đối với các loại hải sản như tôm, mực dùng
để làm bánh bao giờ cũng là loại hải sản tươi,
bảo đảm khi ăn vào bạn sẽ cảm nhận được vị ngon
ngọt của tôm, mực. món này bạn sẽ ăn cùng một
loại nước chấm có màu đỏ hồng nhưng không cay lắm
tạo nên một cảm giác ngon khó tả... Có lẽ sự tinh
tế trong cách làm bánh chính là sự pha trộn độc đáo
những sản vật của người nông dân và ngư dân ở Bình
Thuận và ngay cả chiếc khuôn làm bánh cũng là một
sản phẩm của nghề gốm truyền thống của người Chăm
ở địa phương, tạo nên một món ăn ngon, độc đáo dành
cho tất cả mọi người. Vì vậy mà hàng đêm, có không
ít du khách trong và ngoài nước thả bộ trên đường
Tuyên Quang để nhìn những người phụ nữ tháo vát bên
lò bánh xèo nghi ngút khói và rồi thưởng thức hương
vị thơm ngon của nó với bao niềm thích thú.
Du
khách khi đến Phan Thiết đều muốn được tận hưởng
những sản vật tươi sống của biển. Nhưng ngày nay, các
sản vật bao giờ cũng nằm ở những nhà hàng cao cấp
với giá cả rất khó phù hợp với túi tiền của người
dân bình thường. Song bạn đừng lo, tại Phan Thiết
bạn rất dễ tìm thấy những quán ăn đặc sản biển bình
dân nằm trên đường Võ Thị Sáu, các quán ở khu vực
này thường bán nhiều loại thức ăn chế biến từ
hải sản như: tôm, cua, ghẹ, cá... với giá rất bình dân
và bạn có thể yên tâm về chất lượng của nó vì không
ít người “sành điệu” cho rằng chất lượng món ăn
hải sản ở các nhà hàng sang trọng chưa chắc bằng ở
đây. Đặc biệt, đến những quán này bạn đừng quên
thưởng thức món gỏi cá, đây là món “cá sống”
được làm từ cá suốt, cá đục hoặc cá mai còn tươi
trộn với một hỗn hợp gia vị cay xè dùng chung với bánh
tráng nướng Chợ Lầu khá nổi tiếng tạo nên một món
ăn đặc trưng của phố biển.
Gia vị của bánh xào
gồm các hải sạn cùng với thịt lợn ướp muối, tiêu,
đường, tỏi để làm nhân. Cho bột vào chảo rán chín
mới cho nhân vào, sẽ có món bánh xèo bông điên điển.
Bánh chấm cùng nước mắm pha, ăn với các loại rau
quanh nhà, được nhiều người ưa thích.
Gọi là "đặc sản" của Phan Thiết, vì món bánh
xèo đã đi liền với những phong tục của người dân
Phan Thiết mỗi khi nhà có tiệc tùng hay có khách thì thường
có món bánh xèo để tiếp khách quí. Giữa những ngày
trời nước mênh mông, mưa gió mịt mù mà nhà có khách
thì không gì hơn là chiêu đãi một bữa bánh xèo cùng
những hải sản vùng biển.
Bánh được làm rất đơn giản nhưng hương vị lại đậm
đà khó quên. Dùng bột gạo pha với nước cốt dừa cho
loãng, thêm chút bột nghệ vào cho bánh được vàng và
thơm. Bông điên điển hái về, rửa sạch, để cho ráo
nước. Thịt lợn xắt miếng nhỏ, ướp muối, tiêu,
tỏi, đường, bột ngọt... để độ nửa giờ cho thịt
thấm. Xào số thịt này, khi gần chín thì cho bông điên
điển vào xào chung. Ðây là nhân của bánh.
Ðể có được chiếc bánh giòn, thơm thì cần chú ý cách
chiên: bắc cái chảo bằng gang lên bếp, cho lửa riu riu.
Dùng cọng lá chuối cắt tưa một đầu, rồi chấm mỡ
hay dầu thoa đều trên mặt chảo, đổ bột vào tráng
cho tròn và mỏng, rắc thêm vài con tép lên mặt bánh.
Khi bánh vừa chín thì cho nhân vào, để chừng hai phút
cho bánh thật chín và vàng, gập đôi chiếc bánh lại như
hình bán nguyệt rồi xúc ra đĩa hoặc mâm.
Bánh có hương vị thơm lừng của bột, nghệ, nước
cốt dừa, thịt, tép, bông điên điển, mỡ, hành, tiêu,
tỏi và nhiều thứ gia vị khác. Bánh được ăn với các
loại rau quanh nhà như: đọt bằng lăng, đọt xoài, đọt
điều, đọt cách, lá mơ. Miếng bánh cuốn với các
loại rau chấm nước mắm làm sẵn. Thực khách sẽ được
thưởng thức một bữa ăn khoái khẩu, ngon tuyệt, nhớ
hoài!
|