CHÙA
NÚI TÀ-CÚ
Chùa
tọa lạc trên đỉnh núi Tà Cú ở độ cao 475m thuộc xã
Tân Lập, Huyện Hàm Thuận Nam, cách Tp. Phan Thiết
khoảng 30km về phía Ðông-Nam. Chùa Núi được xây dựng
từ thế kỷ 19, nãm 1879 nhưng trước đó nhiều nãm đã
có chùa thờ Phật bằng mái tranh vách đất. Chùa Núi do
nhà sư Trần Hữu Ðức trụ trì, nơi xây dựng chùa do
nhà sư chọn, ở đó quanh nãm có cây xanh, suối
chảy, chim vượn ở ngay cạnh chùa. Về sau có nhiều lý
do khác nhau, chùa tách thành hai, chùa cũ gọi là chùa
Trên với tên gọi là Linh Sơn Trường Thọ và chùa Dưới
có tên là Linh Sơn Long Ðoàn, gọi chung là Chùa Núi.
Chùa Núi Tà Cú kết hợp, xen kẽ với núi rừng làm nên
khu danh lam thắng cảnh từ xưa. Toàn thể cảnh chùa là
một tổng thể kiến trúc bao gồm: Cổng Tam Quan, điện
thờ, tượng Phật, tháp mộ, hang Tổ, …. ẩn mình dưới
rừng cây cổ thụ xanh tươi bốn mùa.
Từ dưới chân núi, leo lên hàng
trãm bậc tam cấp theo những con đường ngoằn ngoèo giũa
rừng già mới đến chùa. Ở ðây không khí trong lành, mát
lạnh, hơi nước toát ra từ núi đá với không khí
lạnh mát hấp dẫn trong mùa hè. Chùa Núi nổi tiếng cũng
nhờ vào phong cảnh hùng vĩ nên thõ của núi rừng. Mặt
khác, Chùa Núi còn có pho tượng Phật nằm khổng
lồ:” Thích Ca nhập niết bàn” nằm ở vị trí cao
nhất cách chùa khoảng 100m. Tượng Phật này thuộc vào
pho tượng Phật hiếm có trong lịch sử Phật Giáo Việt
Nam. Tác phẩm do kỹ sư Trương Ðình Ý chủ trì vào nãm
1962.
Cách Pho Tượng Phật nằm chừng 50m là nhóm tượng Tam
Thế Phật: A Di Dà, Quan Thế Âm Bồ Tát, Ðại Thế Chí.
Cả 3 pho tượng có chiều cao khoảng 7m, với nét mặt
hiền hòa đang nhìn bao quát thế gian như để sẳn sàng
cứu nhân độ thế.Vào các mùa trong nãm lúc nào cũng có
khách thập phương đến viếng Phật, ngắm cảnh chùa và
rừng núi, nhất là dịp Xuân về Tết đến có hàng
vạn người kéo ðến chùa.
Huyền
thoại Linh sơn Tà Cú
Vùng
đất cực Nam Trung bộ có nhiều di tích lịch sử văn hóa,
nhưng với Linh Sơn Trường thọ trên núi Tà Cú (thuộc
huyện Hàm Thuận Nam) lại mang một bản sắc rất riêng.
Từ cảnh quan thiên nhiên đến những truyền thuyết như
hòa quyện vào nhau để Tà Cú càng thêm hoang sơ và
quyến rũ.Thắng cảnh di tích Tà Cú nằm ở vị trí đầu
mối các tuyến đường giao thông: từ thành phố Hồ Chí
Minh ra và các nẻo đường từ Vũng Tàu đi qua Suối nước
nóng Bình Châu, Dinh Thầy Thím (Hàm Tân), Mũi điện Khê
Gà… rất thuận lợi cho lộ trình hành hương và những
chuyến lữ hành du lịch sinh thái. Khách sẽ ngỡ ngàng
khi đứng trước cảnh chùa cổ kính, tượng phật trầm
tư và dấu thiêng của Tổ sư từ buổi khai sơn cách đây
trên 130 năm. Không đợi đến ngày giỗ tổ Hữu Đức hàng
năm (mùng 5 tháng mười âm lịch), hoặc Tết nguyên đán
mà gần như thường xuyên đều có khách thập phương đến
viếng cảnh. Những tốp người lặn lội leo hàng ngàn
bậc đá của những đoạn dốc cao kéo dài 2.000m mới đến
được một cõi an nhiên đầy bóng xanh của tán lá
rừng, lẩn khuất màu mây.
Đã
có khá nhiều trang viết, bài báo nói về chùa Tà Cú, nhưng
với tôi mấy lần lên xuống núi vẫn mang nặng bao điều
băn khoăn xung quanh những câu chuyện tưởng chừng bí
ẩn. Hỏi chuyện nhà sư trụ trì, rồi gặp những người
cao tuổi từng sống dưới mái ngói rêu phong của tổ đình
và đến tận chùa Pháp Bửu Đàn (Hàm Tân) để nghe sư
bà nói về ngôi chùa tổ cội nguồn. Tôi cảm nhận ra
những điều kỳ diệu ở buổi ban sơ mà nhà sư Hữu Đức
và các chư hậu tổ đã dày công tạo dựng ngôi chùa,
những tượng Phật hoành tráng giữa chốn non cao rừng
thẳm.
Giữa hoàn cảnh núi cao, khí hậu khắc nghiệt, cách
biệt với cư dân thì nhà sư sẽ sống ra sao? nhưng được
lý giải từ những môn đồ kế tục rằng: Nhờ pháp
thuật cao siêu mà tổ Hữu Đức thuộc dòng Lâm tế chánh
tông thứ 40 đạt được sức mạnh chuyển hóa vạn
vật xung quanh. Biết bao huyền thoại về tổ Hữu Đức
suốt 16 năm khai sơn với sự nhiệm màu của trí huệ,
đại hùng. Theo nhiều người truyền tụng, có một
bạch hổ luôn phủ phục bên hang Tổ, quấn quít theo chân
Tổ bất cứ đi đâu. Mãi cho đến ngày Tổ tịch thì
hổ cũng chết theo nên mới có ngôi mộ hổ ở vườn chùa.
Trên cánh rừng cạnh chùa có cặp chim hồng hoàng cao cát
với bộ lông rất đẹp, xuất hiện từ khi có Tổ.
Tiếng chim hót lên cũng là báo hiệu có khách thập phương
dưới chân núi sắp lên rồi bay lượn dẫn đường không
sai một bước. Bữa ăn hàng ngày của Tổ là lá rừng,
rau lũi hái ở vách núi bên hang, nước uống thì lấy
từ khe đá. Có người kể về giai thoại của Tổ cho đến
sau này, đó là khi xây pho tượng Phật nằm 49m, nhu cầu
vận chuyển hàng trăm tấn sắt thép, xi măng lên núi đã
khó trong khi khối lượng cát xây phải cần đến gấp
chục lần lại giữa địa hình sườn núi đá phủ kín
mà không phải đưa từ dưới núi lên. Trước ngày thi công
theo thời gian của thợ hồ, sư trụ trì lúc ấy cho
trữ nước vào các hồ, mái chứa rồi bít kín các lỗ
mạch nước chảy hàng ngày, sáng ra từ các mạch nổi
đã trào ra những đụn cát nhuyễn dùng được cho công
trình.Vào năm Tự Đức thứ 33 (tức 1880), hoàng thái
hậu là bà Từ Dũ lâm trọng bệnh, mắt mù lòa nhưng các
ngự y, danh y tài giỏi ở triều đều bất lực. Nhà vua
châu tri khắp thần dân trong nước kêu gọi ai cứu được
mẫu hậu sẽ trọng thưởng. Bởi tiếng đồn về danh
đức, pháp thuật của Tổ từ lâu, nay quan thủ hiến đầu
tỉnh Bình Thuận lập tức viết biểu tâu lên vua. Vua
Tự Đức hạ chiếu sai sứ xin rước Tổ về triều
chữa bệnh cho Hoàng thái hậu. Nhưng vì đã nguyện không
bao giờ xuống núi nữa mà Tổ chỉ trao cho sứ thần
thảo dược cùng cách sử dụng. Quả là linh nghiệm, sau
khi uống hết các chú chuẩn đề và thuốc, Hoàng thái
hậu vượt qua căn bệnh hiểm nghèo, nhanh chóng bình
phục. Vua Tự Đức tỏ lòng cảm phục Tổ ban sắc phong
bốn chữ “Linh Sơn Trường Thọ” cho nơi Tổ sáng
lập và tu tịnh.
Tôi
lần theo vách đá xuống hang Tổ trong bóng tối âm u
chỉ vài chục mét đã thấy hơi lạnh xông lên đến
rợn người. Vậy mà Tổ Hữu Đức chọn làm nơi thiền
tịnh. Người ta kể, quăng một trái bưởi xuống hang thì
vài ngày sau sẽ tìm thấy trái bưởi đó trôi trên
biển Khê Gà… Chui vào lòng tượng Phật nằm, len qua
những gộp đá hoa cương ở lưng chừng núi mới thấy
trí lực của những thiền sư đã khơi dậy sự mầu
nhiệm đáp ứng nỗi khao khát của con người. Tà Cú
với tiềm năng đa dạng được thiên nhiên ưu đãi nức
tiếng linh sơn từ rất xa xưa gắn với những ngày khổ
hạnh tu luyện của Tổ Hữu Đức. Nơi đây hiện là
một trong những điểm du lịch khá nổi tiếng của Bình
Thuận.
Những
nãm gần đây nãm nào cũng tổ chức hội thi leo núi thu
hút nhiều thanh niên từ các tỉnh miền Ðông tham gia.
Sắp tới nõi đây sẽ thực hiện dự án cáp treo để
đưa du khách lên xuống tham quan được thuận tiện hơn.
Chùa Núi cùng với những cánh rừng trong khu Bảo Tồn
Thiên Nhiên đã được Nhà Nước xếp hạng thắng cảnh
quốc gia nãm 1993.
CHÙA
HANG
Chùa Hang (Cổ
Thạch): Chùa Hang còn gọi là Chùa Cổ Thạch, tọa lạc
tại bờ biển xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, cách Tp.
Phan Thiết 105km về hướng Bắc. Chùa được xây dựng
trong hang đá lớn do thiền sư Bảo Tạng lập vào
khoảng giữa thế kỷ 19. Đường lên chùa Hang có xây
bậc, lan can hai bên chùa đắp rồng. Trên núi đá nhỏ sát
bờ biển có tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong chùa
có tượng Đức Phật Thích Ca. Cạnh chùa là bãi đá Cà
Được nhiều màu sắc chạy dọc bờ biển gần 1km. Xung
quanh chùa Hang cảnh quan tuyệt đẹp, một làng du lịch
Cổ Thạch mới mọc lên với nhiều ngôi nhà xinh xắn
được xây theo kiểu nhà sàn để đón khách phương xa
về viếng chùa và thưởng ngoạn thắng cảnh.
Cổ Thạch là một vùng núi đá rộng, gồm hàng ngàn, hàng
vạn tảng đá lớn nhỏ, có tảng đá nguyên khối to như
những ngôi nhà, có tảng giống như bàn Thạch, có
những tảng chồng lên nhau, úp vào nhau, như có bàn tay
con người sắp đặt, bố trí, có những tảng đá có hình
thù kỳ lạ đầy tính cách huyền bí và chứa đựng
vẻ đẹp nguyên sơ độc đáo với nhiều hang động nguyên
sinh luồn sâu vào trong núi. Chùa Cổ Thạch ngoài vẻ đẹp
tự nhiên của hang động kết hợp với sự sáng tạo
của con người, ở đây còn lưu giữ nhiều di sản văn
hóa lịch sử quý hiếm: nhiều di sản văn hóa Hán Nôm
liên, đối, hoành phi và những tài liệu có từ ngày
lập chùa. Một số cổ vật có giá trị lịch sử văn hóa
khác như Đại Hồng chung, trống sấm đều có niêm đại
từ nửa đầu thế kỷ 19.
Chùa Hang hàng chục năm nay do Hòa Thượng Thích Minh Đức
trụ trì là điểm du lịch chính ở Bình Thuận, hàng
chục vạn du khách từ mọi miền đất nước và du khách
nước ngoài đến đây hàng năm để chiêm bái, lễ
Phật và tham quan danh lam thắng cảnh độc đáo hiếm có
ở đây. Những giá trị về thắng cảnh thiên nhiên và
về lịch sử văn hóa, Cổ Thạch Tự đã được Nhà nước
xếp hạng di tích thắng cảnh cấp Quốc gia năm 1993.

Chùa
Bà Thiên Hậu xây dựng năm 1725 toạ lạc tại xã Phan Rí
Thành huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận, cách thành phố
Phan Thiết trên 70 km về phiá bắc.
Chùa
Bà Thiên Hậu thực ra là một ngôi đền thờ do người
Hoa xây d ựng để thờ một nhân vật theo truyền
thuyết của người Trung Hoa. Không rõ từ lúc nào kể
cả người Hoa và người Việt ở đây lại gọi đền
thờ bằng tên Chùa Bà Thiên Hậu và cũng từ đó đền
thờ này có tên gọi như hiện nay.
Sách
xưa gọi là Đền Thiên Hậu đúng nh ư tên và nội dung
của ngôi đền thư ở mới xây dựng. Nội dung có đoạn
“Đền được xây dựng ở ngoài quách tỉnh thành cũ,
trước đền gần sông phiá Bắc sông có gò cát đỏ làm
tiền án cho đền. Tương truyền thần thờ trong đền là
người huyện Tiêu Điền, tỉnh Phúc Kiến bên tàu, họ
Lâm là con gái thứ hai của Ôn Công, 8 tuổi học đạo
tiên, 12 tuổi luyện đơn đã thành, kêu gió, gọi mưa
được ứng nghiệm, Đời Tống có người đi biển gặp
nạn gió, thuyền gần bị lật úp, thốt nhiên giữa không
trung hiện ra một người tự nói “ Ta là con gái Ôn Công,
giáng xuống để bảo hộ các người đây”. Rồi trong
khoảnh khắc, gió lặng, thuyền được vô sự. Sau đó
nhà Tống phong làm phu nhân, triều nhà Minh phong làm Thiên
Phi, triều nhà Thanh phong làm Thiên Hậu Thánh mẫu”. Khi
dựng đền thờ ở đây, những người khách buôn thường
lui tới phụng cúng, đền thờ rất tráng lệ.
Một
truyền thuyết khác tương tự như trên, nhưng có đoạn
khác “ bà Thiên Hậu biến thành khúc gỗ gió (cây lấy
trầm” trôi từ ngoài biển vào, đến đoạn sông này (
sông Cái, đoạn cuối sông Lũy trước lúc đổ ra biển)
khúc gỗ không trôi được nữa. Thấy điều kỳ lạ người
Hoa xưa đã xây đền tại nơi khúc gỗ dừng để thờ bà.
Chùa
Bà Thiên Hậu xây dựng theo kiểu cách kiến trúc
của người Hoa, kể cả trang trí nghệ thuật, màu sắc
bên trong, bên ngoài đều mang đặc trưng văn hoá của người
Hoa. Di tích này nằm trên vị trí rất lý tưởng, ở
về hữu ngạn sông Cái, mùa nước cạn có thể lội qua
bên kia sông, quanh năm gió mát, quanh chùa có nhiều cây
cổ thụ lớn.
Chùa
Bà Thiên Hậu còn lưu nhiều di sản văn hoá Hán Nôm,
trong số đó có 5 sắc phong của các vua triều Nguyễn
ban tặng cho Bà Thiên Hậu vì Bà đã có công giúp đỡ
cho nhân dân trong vùng và phù hộ cho họ về mặt tinh
thần. Chùa Bà Thiên Hậu là một trong những ngôi chùa
Cổ nhất Bình Thuận . Chùa đã được tu bổ một số
lần nhưng vẫn giữ được kiến trúc và trang trí nghệ
thuật xưa.
Hiện
nay Chuà Bà Thiên Hậu là một trong những nơi du ngoạn và
viếng thăm không phải chỉ có người Hoa mà còn rất đông
đảo người Việt đến vì sự tín ngưỡng và tâm linh
của họ, một phần khác vì ở đây có nhiều cảnh trí
thoáng mát , kết hợp với chùa tạo nên nơi nghỉ dưỡng,
thoải mái và có lòng tin Thần sẽ phù hộ.

Đình
làng Xuân An được kiến tạo vào năm Giáp dần 1794 và
hoàn thành vào những năm sau đó. Đình toạ lạc ở thôn
Xuân An, thị trấn Chợ Lầu, huyện Bắc Bình cách thành
phố Phan Thiết 65km về hướng Bắc.
Đình
làng Xuân An là một tổng thể bao gồm nhiều kiến trúc
: Đình chính thờ thần, đình thờ Tiền Hiền, Hậu
Hiền, nhà tiền vãng, nhà nhóm và cổng tam quan. Hơn 300
năm trước, trong trào lưu di dân từ các tỉnh miền
Bắc, miền Trung và phương Nam dưới sự điều hành
của các chúa Nguyễn, một bộ phận dân cư dừng lại
lấy vùng đất này định cư lâu dài. Sau khi công cuộc
khẩn hoang đã hoàn tất và cuộc sống của nhân dân đã
ổn định, đình làng được xây dựng theo truyền
thống của người Việt để thờ Thần Thành Hoàng làng,
các bậc tiền bối có công xây dựng xóm làng, góp công
của dựng đình làng.
Các
nhà địa lý xưa đã xem đất và dựa vào thuyết
phong thủy của phương đông xưa để chọn thế đứng
của đình vì đây là điều hệ trọng, ảnh hưởng
rất lớn đến cuộc sống của dân làng về sau. Đình
được xây dựng ở vị trí trung tâm làng Xuân An,mặt
chính quay về hướng Nam, cách đình không xa về phía Nam
là con sông Lũy, trước mặt đình có nhiều động cát
cao dùng là án phong.
Đình
làng Xuân An là một trong những ngôi đình cổ có quy mô
rộng lớn và có lối kiến trúc nghệ thuật độc đáo.
Đình thờ thần bao gồm 48 cột lớn bằng những loại
gỗ đặc biệt, chia ngôi đình thành 7 gian 2 chái, đình
có kiểu kiến trúc “nhà kép” , trên một nền nhà có
2 bộ khung nhà, nhà trước và nhà sau liền nhau và nối
với nhau bằng hệ thống trần thừa lưu làm cho ngôi đình
rộng hơn. Mái đình lợp ngói âm dương, hai đầu hơi
cao lên, ở giữa trũng xuống. Mái nhà chia làm 2 mảng mái
thượng và mái hạ. Tất cả các bộ phận kết cấu
kiến trúc ở đình như đầu kèo đầu cột, trính, con
đội (cột trốn)... đều được chạm trổ tinh xảo,
tạo nên những tác phẩm trang trí nghệ thuật phức
tạp. Ở đây có sự kết hợp hài hoà giữa kết cấu
kiến trúc và trang trí mỹ thuật, vừa có công năng
chịu lực, vừa có tác dụng thẩm mỹ rất cao. Đó là
giá trị chính của
những người thợ xây dựng đình để lại đến ngày
nay.
Nội
thất đình chia thành nhiều khu vực, trung tâm thờ Thành
Hoàng làng, hai bên thờ tả ban, hữu ban và những bậc
tiền bối có công xây dựng xóm làng. Điều đặc biệt
ở trong ngôi đình làng Xuân An là bên cạnh khám thờ
thần còn có khám thờ nữ thần Thiên YaNa Diễn Ngọc
Phi là nữ thần người Chăm. Trong mỗi khám thờ đều
trang trí nghệ thuật điêu khắc, hệ thống hoành phi,
bao lam, liễn đối sơn son thiếp vàng và thành vọng
viền xung quanh do kỹ thuật chạm lọng tạo nên. Ở đình
làng Xuân An còn có nhiều câu đối, hoành phi khắc
bằng chữ triện, đến nay nội dung của những câu đối
này chưa biết được.
Đình
thờ Tiền Hiền cũng có kết cấu 48 cột nhưng chỉ có
một nóc nhà, ở đây có nhiều khám thờ để
thờ các thế hệ Tiền Hiền, Hậu Hiền.
Đình
làng Xuân An hiện còn lưu giữ hàng trăm hoành phi , câu
đối với nhiều giá trị mang tính nhân văn, khuyên dạy
mọi người hãy luôn nhớ về cội nguồn, gốc rễ.
Trong
đình còn giữ chiếc Đại Hồng Chung
cổ có niên đại từ thời vua Tự Đức năm thứ
hai (kỷ Dậu 1849) và 8 sắc phong do các triều vua Nguyễn
ban tặng cho các vị thần được thờ ở đình và giao
cho chính quyền địa phương phaỉ bảo quản và thờ
phụng. Theo truyền thống và phong tục tập quán của người
Việt ở đây hàng năm nhân dân thực hiện nghi lễ Tế
Xuân vào 16-17 tháng 2 âm lịch và Tế Thu vào 16-17 tháng
8 âm lịch.
Đình
làng Xuân An đã được Nhà nước xếp hạng di tích
kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 1993.
DINH
THẦY THÍM
Dinh
Thầy Thím tọa lạc giữa khu rừng già, có tên là rừng
dầu Bàu Cái thuộc xã Tân Hãi, huyện Hàm Tân cách Thành
phố Phan Thiết khoảng 70 km về phía Đông Nam.
Tương truyền trong dân gian: Dưới Triều vua Tự Đức có
hai vợ chồng đạo sĩ quê ở làng La Qua, phủ Điện Bàn,
tỉnh Quảng Nam. Đạo sĩ là người giàu tài đức, hay
giúp đỡ người nghèo khó, căm ghét bọn quan lại hay
ức hiếp dân làng, chống lại chế độ đương thời.
Ông bị Triều đình Tự Đức kết tội gây rối, mưu
toan bạo loạn và chịu hình phạt "Tam ban Triều
Diễn". Trước lúc bị hình phạt này, Đạo sĩ đã
"biến" dãi lụa điều thành rồng bay về phương
Nam. Hai vợ chồng dừng chân ở làng Tam tân, ngày ngày
bốc thuốc chữa bệnh cho dân và đốn củi kiếm sống
qua ngày. Tài đức của vị Đạo sĩ nổi tiếng khắp vùng,
từ đó dân làng gọi vợ chồng Đạo sĩ bằng cái tên
thân mật "Thầy, Thím". Hàng năm vào ngày 5
tháng giêng âm lịch, người ta thường thấy một đôi
hổ thường về viếng mộ Thầy.
Đến đời Thành Thái thứ 18 năm Bính Ngọ (1906), nhà
vua đã xem xét lại công đức Thầy Thím nên quyết định
xóa án và ban sắc phong "Chí Đức Tiên Sinh, Chí Đức
Nương Nương Tôn Thần". Để tỏ lòng tôn kính và
biết ơn công lao của Thầy Thím, dân làng đã lập dinh
tại địa điểm ngày nay để tôn thờ. Nhân dân quanh vùng
coi Thầy Thím như vị Thành Hoàng biểu hiện cho nhiều tính
cách đáng quý: tài đức, tính cần cù, miệt mài lao động,
lòng nhân ái với người nghèo khổ. Hơn 100 năm qua Dinh
Thầy Thím trở thành nơi để nhân dân chiêm bái, những
năm gần đây là khu danh lam thắng cảnh và du lịch kết
hợp với núi rừng xung quanh bãi biển, đồi dương. Hàng
năm nhân dân khắp nơi đến viếng mộ thăm Dinh, nhưng
đông nhất vẫn là dịp giỗ Thầy ngày 5 tháng giêng âm
lịch và tế Thu của Dinh từ ngày 14-16 tháng 9 âm lịch.
Dinh Thầy Thím được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận
công nhận và ra quyết định bảo vệ khu danh lam thắng
cảnh số 1377-QĐ/UB-BT ngày 6/12/1993 và Bộ Văn Hóa Thông
Tin đã được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật
năm 1997.
DI
SẢN VĂN HOÁ HOÀNG TỘC CHĂM
Vương
quốc Chămpa kể từ khi hình thành, tồn tại và phát
triển với tư cách là một Nhà nước độc lập, có
một vương triều được chuyển tiếp qua nhiều thế
hệ với hàng chục đời vua chính thống và sau này là
một số đời vua được “phiên vương”. Mỗi triều
đại có một cách trị vì
đất nước khác nhau , nhưng đều giữ được bản sắc
văn hoá của người Chăm. Đặc biệt trong các vương
triều của Vương quốc Chămpa đều sử dụng các loại
phương tiện sinh hoạt, vũ khí, trang phục triều chinh hoàn
toàn khác các nước và các vương quốc trong khu vực.
Mặc
dù Vương quốc Chămpa trong tiến trình phát triển của
lịch sử, đã qua nhiều triều đại khác nhau nhưng do
nhiều nguyên nhân khác nhau, chủ yếu là do chiến tranh nên
không còn lưu giữ lại được những đồ dùng sinh
hoạt trong triều chính. Chỉ còn lại một sưu tập duyy
nhất của triều vua PôKlong Mơ HNai và hoàng hậu ôbia Sơm
là tương đối đầy đủ nhưng không phải tất cả đều
của triều vua này mà vương miện, vũ khí và một số
đồ quý hiếm khác phải có nguồn gốc từ các vương
triều trước.
Sưu
tập di sản của Hoàng tộc Chăm còn lại hiện nay do các
Vua Chăm truyền lại cho các thế hệ hậu duệ lưu giữ.
Người được quyền thừa kế và lưu giữ lâu nhất là
bà Nguyễn Thị Thềm, hậu duệ của dòng Vua PôKlong Mơ
HNai, bà là một trong những người có uy tín và được
người Chăm tin yêu, gọi bà là “công chuá”. Năm 1995
bả đã qua đời và người thừa kế tiếp theo là bà
Nguyễn Thị Đào cháu gái bà Nguyễn Thị Thềm. Sưu
tập di sản Hoàng tộc Chăm hiện bảo lưu tại thôn
Tịnh Mỹ - xã Phan Thanh - huyện Bắc Bình cách thành
phố Phan Thiết 62 km về hước Bắc.
Sưu
tập bao gồm hơn 100 hiện vật là phương tiện, đồ dùng,
trang phục trong cung đình, đa phần là loại độc bản
quý hiếm như vương miện của Vua là loại vương miện
đúc bằng vàng, chạm trổ điêu khắc tinh vi và công
phu, theo nghệ thuật truyền thống của người Chăm xưa
dành cho n
hà
vua. Khác với vương miện của Vua Trung Quốc và Vua
Việt biểu tượng là rồng, còn ở đây trên vương
miện là 2 con Makara quấn quýt trên vương miện thể
hiện uy quyền của Nhà vua. Vương miện của Hoàng hậu
Chăm cũng bằng vàng và có
hình dạng nhỉ, đẹp với trang trí nghệ thuật tiêng.
Cạnh đó là nhiều loại trang phục của Nhà vua: aó
mặc trong triều, áo trận, hài, bộ vũ khí gương đao và
một số đồ dùng bằng bạc và sứ có nguồn gốc từ
Trung quốc, Nhật Bản. Trang phục và trang sức của Hoàng
Hậu Chăm có hình dạng lạ và trang trí đẹp theo phong
tục truyền thống, trang phục của Công Chúa và Hoàng
tử Chăm cũng khác lạ. Nhiều loại hiện vật khác
bằng bạc như đồ đựng trầu cau, bằng đồng như bộ
nhạc cụ cùng nhiều loại tài liệu khác liên quan đến
đất đai và sinh hoạt triều chính, một số sắc phong
của các vua triều Nguyễn ban tặng cho vua PôKLong MơHNai,
dấu ấn...
Đây
là sưu tập duy nhất còn lại của vương triều Chămpa
sau gần 2 thiên niên kỷ tồn tại, và rất có giá trị
về mặt lịch sử văn hoá, hiện sưu tập đang được
trưng bày tại kho mở tại gia đình bà Nguyễn Thị Đào,
hậu duệ nhiều đời vua Chămpa tại xã Phan Thanh huyện
Bắc bình. Với giá trị lịch sử nghệ thuật của bộ
sưu tập, Nhà nước đã xếp hạng công nhận là di tích
lịch sử - nghệ thuật cấp quốc gia cùng với nhiều đền
thờ PơKlong MơHNai vào năm 1993.

Nhóm
ðền Tháp Chãm PôSaNư tọa lạc trên ðồi Bà Nài
thuộc xã Phú Hải về phía Ðông-Bắc cách Tp. Phan
Thiết khoảng 7km ðược người Chãm xây dựng từ
những cuối thế kỷ IX thuộc phong cách kiến trúc nghệ
thuật Hòa Lài - một trong những phong cách kiến trúc
nghệ thuật cổ của Vương quốc Chãm-pa, mà hiện nay
những ngôi tháp này còn lại rất ít như một số phế
tích ở khu thánh ðịa Mỹ Sõn, còn lại nhóm Hòa Lai
(Phan Rang) nhóm PôDam (Tuy Phong - Bình Thuận) và tương ðối
nguyên vẹn là nhóm ðền tháp PôSaNư.
PôSaNư là nhóm ðền tháp Chãm có vai trò quan trọng
trong các di tích kiến trúc Chãm ở Bình Thuận, từ hình
dạng kiến trúc ðến kỹ thuật xây dựng và trang trí
nghệ thuật trên thân tháp, các vòm cuốn, các cửa chính,
cửa giả, trong lòng và lên ðến ðỉnh tháp. Riêng kỹ
thuật xây dựng và trang trí nghệ thuật còn lại ở thân
tháp ðủ gợi lên yếu tố thẩm mỹ khá riêng biệt
của phong cách Hòa Lai. So với những tháp Chăm khác, đến
nay hàng năm vẫn có đông đảo người Chăm từ các vùng
lân cận đến làm lễ cầu mưa và những nghi lễ khác
liên quan đến phong tục tập quán của họ. Một điều
khá lý thú nữa là đối với ngư dân những vùng lân
cận truớc khi đi biển cũng đến đây cầu xin cho
những chuyến đi biển được bình yên. Nhóm đền tháp
Chăm PôSaNư được Nhà nước xếp hãng di tích kiến trúc
nghệ thuật quốc gia năm 1991.
THÁP
CHÃM PÔDAM
Nhóm
ðền tháp Chãm PôDam (Pô Tằm) tọa lạc dưới chân núi
có tên là ông Xiêm thuộc địa phận xã Phú Lạc -
huyện Tuy Phong - Tỉnh Bình Thuận nằm về hướng Tây
Bắc cách TP. Phan Thiết khoảng 110km. Tương tự như nhóm
tháp PôSaNư cả về kỹ thuật xây dựng và nghệ thuật
kiến trúc, và có niên đại nữa cuối thế kỷ VIII đầu
thế kỷ IX thuộc phong cách kiến trúc nghệ thuật Hòa
Lai.
Tháp PôDam là nơi thực hiện nghi lễ, thờ cúng Vua Chăm
hàng năm của người Chăm Phú Lạc và các vùng lân
cận. Hiện những dòng tộc là hậu duệ của Vua còn lưu
giữ 8 sắc phong do các vua Triều Nguyễn từ Minh Mạng đến
Khải Định phong tặng Vua PôĐam, chúng được cất giữ
đặc biệt như báu vật của dòng tộc và trách nhiệm
của hậu duệ vua. Di tích nhóm tháp Chăm PôDam được Nhà
nước xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp
Quốc gia năm 1996.
|
 
PhanThiet - BinhThuan (2003)
|
Trang
1