TRƯỜNG
DỤC THANH
Trường
Dục Thanh xây dựng nãm 1907 (cùng năm xây dựng với Trường
Ðông Kinh Nghĩa Thục) tọa lạc trên địa bàn làng Thành
Ðức nay là số nhà 39 đường Trưng Nhị, phường Ðức
Nghĩa, Tp. Phan Thiết, để hưởng ứng phong trào Duy Tân
do cụ Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp và do các cụ Nguyễn
Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh (hai người con nhà vãn - thơ
yêu nước Nguyễn Thông) thành lập. Mục tiêu của phong
trào Duy Tân và của trường là mở mang dân trí, thức
dậy ý thức dân tộc, nòi giống. Ðây là trường tư
thục có nội dung giảng dạy tiến bộ nhất ở Bình
Thuận lúc bấy giờ.
Nãm
1910 trên đường ði tìm đường cứu nước, Thầy giáo
Nguyễn Tất Thành (sau này là Chủ Tịch Hồ Chí Minh)
được cụ nghè Trương Gia Mô giới thiệu đã đến Phan
Thiết và dừng chân dạy học ở trường Dục Thanh.
Học sinh của trường có khoảng 60 ngườI cùng 7 thầy
giáo giảng dạy các bộ môn: Hán Văn, Pháp Văn, thể
dục thể thao, ....
Thầy Thành dạy lớp nhì, chủ yếu là dạy quốc ngữ,
Hán văn. Trong thời gian dạy học ở trường Dục Thanh
ngoài nội dung được phân công giảng dạy thầy Thành còn
bằng tình cảm người thầy, người anh đã truyền bá lòng
yêu nước, nòi giống tổ tiên cho học sinh. Những giờ
học ngoại khóa, những lúc rảnh rỗi Thầy Thành dẫn
học sinh du ngoại cảnh ðẹp ở thị xã Phan Thiết lúc
bấy giờ như bãi biển Thương Chánh, động làng Thiền,
đình làng Ðức Nghĩa.

Vào khoảng tháng 2 nãm 1911, Thầy Thành rời trường
Dục Thanh và Phan Thiết vào Sài Gòn vượt ðại dương
đi tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc. Một vài
nãm sau, ông Nguyễn Trọng Lội qua ðời, ông Nguyễn Quý
Anh chuyển vào Sài Gòn, không còn người phụ trách và
do nhiều lý do khách quan nên trường đóng cửa vào nãm
1912.
Ngôi trường xưa Bác dạy đã bị hư hỏng và dỡ bỏ
từ lâu. Nhưng trong số học sinh thầy Thành dạy nãm xưa
vẫn còn 4 người còn sống. Sau ngày quê hương được
giải phóng, nguyện vọng của nhân dân là muốn phục
chế lại ngôi trường Dục Thanh xưa để tỏ lòng biết
ơn Bác Hồ kính yêu và giáo dục truyền thống yêu nước
cho các thế hệ hiện nay và mai sau.
Nhà
Ngư được xây dựng từ năm 1906 và từ năm 1908 trở đi
dùng làm nơi nội trú của học sinh cũng được khôi
phục lại.
Ngọa du sào là ngôi nhà được xây dựng từ nãm 1880
của cụ Nguyễn Thông. Vào những nãm cuối ðời cụ
Nguyễn Thông ở tại căn nhà này ngâm thơ, bình văn và
luận bàn công việc với các sĩ phu yêu nước. Lúc ở
trường Dục Thanh thầy Thành đọc sách, soạn bài ở
Ngọa du sào, ngôi nhà này cũng được tu bổ lại, hiện
vật bên trong bị xáo trộn và mất mát khá nhiều.
Cây Khế, Giếng Nước gắn bó với cuộc đời làm
Thầy của Bác Hồ ở Dục Thanh nên nó cũng là điểm chính
trong khu di tích.
Những hiện vật gốc từ thời thầy Thành dạy
học đến nay vẫn còn lưu giữ lại: Một bộ trường
kỷ, một bộ ván, chiếc án thư, nghiên mài mực, một
chiếc tủ đứng, tráp vãn thư, 3 chiếc ly nhỏ, 1 chiếc
khay. Tất cả đều cũ kỹ nhưng được cất giữ bảo
quản tốt. Ðó là những kỷ vật thiêng liêng gắn
liền với thời gian và lịch sử của những ngày dạy
học ngắn ngủi ở Phan Thiết của thầy giáo Nguyễn
Tất Thành.
LẦU
ÔNG HOÀNG
Lầu Ông Hoàng bao gồm
một quần thể đồi núi, sông, biển, chùa tháp tạo thành
khu danh lam thắng cảnh nổi lên với ngọn núi Cố tương
đối cao và 4 ngọn đồi nhấp nhô sát biển, đẹp
nhất là núi Cố, đồi Bà Nài, cửa sông Phú Hài và
bờ biển cùng những làng chài xưa cách Phan Thiết 7km
về hướng Đông Bắc.
Năm 1911 một ông Hoàng người Pháp là công tước De
Montpensier từ Pháp sang du lịch, săn bắn ở những ngọn
đồi lân cận, thấy phong cảnh sơn thủy đẹp ở đây
khiến ông nảy sinh ý định mua đất và xây dựng biệt
thự, cũng để có nơi nghỉ nghơi trong các kỳ săn bắn
và du lịch sau này. Nguyện vọng của ông đã được nhà
cầm quyền Pháp ở Bình Thuận (công sứ Garnier) đồng
ý bán quả đồi Bà Nài. Ngày 21 tháng 2 năm 1911 biệt
thự được khởi công xây dựng và gần 1 năm sau đó hoàn
chỉnh, với diện tích rộng 536m2 chia thành 13
phòng. Khu biệt thự được xây cách nhóm đền tháp PôSaNư
gần 100m về phía Nam. Đây là khu biệt thự đẹp, đầy
đủ tiện nghi, ban đêm có máy phát điện dưới biệt
thự có nhiều hầm chứa nước mưa đủ cho những
nguời trong biệt thự dùng trong 1 năm, được coi là
hiện đại nhất Bình Thuận lúc bấy giờ. Từ đó nhân
dân Phan Thiết quen gọi khu vực này là đồi "Lầu
Ông Hoàng". Vài chục năm sau thi sĩ Hàn Mạc Tử đã
đến địa danh này và đã để lại nhiều kỷ niệm
khiến cho Lầu Ông Hoàng càng có ý nghĩa.
Hiện nay, Lầu Ông Hoàng là một quần thể du lich hấp
dẫn bao gồm: Nhóm Tháp Chăm Cổ, bên cạnh có chùa Bửu
Sơn cổ kính, dưới chân đồi là bờ biển, cửa sông
Phú Hài, núi Cố.... Tất cả hợp thành một quần thể
di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh của
Phan Thiết.
HÒN BÀ
Hòn
Bà là một hòn đảo nhô cao lên giữa biển, cách bờ biển
Lagi, huyện Hàm Tân gần 2km hướng về phía Đông. Cách Phan
Thiết khoảng 70km về phía Đông Nam. Hòn bà là ngọn núi trẻ,
trên núi có nhiều cây cổ thụ lớn. Nữa đầu thế kỷ XVII
người Chăm đã dựng lên một ngôi đền thờ nữ Thần Thiên
Ya Ana - vị thần thiêng liêng của Vương Quốc Chăm-pa cổ. Cũng
từ đây hòn đảo có tên gọi là Hòn Bà. Ngôi đền thờ có
kết cấu kiến trúc và trang trí nghệ thuật giống như ngôi
miếu của ngườI Việt cùng thời. Trong ngôi đền thờ, tượng
nữ Thần Thiên Y Ana bằng đá, được các nghệ nhân Chăm tạc
từ một khối đá nguyên tại chỗ. Việc thờ tượng Bà ở
trên đỉnh Hòn Bà thể hiện sự tôn vinh của người Chăm
với
Nữ Thần. Mặt khác ở những thế kỷ trước đây, nghề biển
là nghề chính thu hút đông đảo ngư dân Chăm ven bờ mà dấu
vết của những làng ngư cổ vẫn còn. Do vậy, việc thờ tượng
nữ Thần ở đây là sự cầu mong cho nữ thần phù hộ, cứu
nạn cho họ trên biển. Hàng năm người Chăm ở các nơi thường
đến đây làm lễ cầu mưa và các nghi lễ tôn giáo khác.
Hòn Bà người ta biết đến và ngưỡng mộ không phải chỉ
bằng chính ngôi đền cổ mà bởi ở đây là hòn đảo cheo
leo giữa biển hấp dẫn mọi người bằng chính cảnh đẹp của
nó cộng với sự hùng vĩ mênh mông của biển cả và đồi dương
bên trong bờ càng làm cho phong cảnh ở đây đẹp thêm
KHU LĂNG
MỘ NGUYỄN THÔNG
Nguyễn Thông là nhà trí thức yêu nước,
nhà thơ, nhà văn và nhà hoạt động xã hội có ảnh hưởng
lớn ở miền Nam nước ta nửa đầu thế kỷ XIX. sau khi
mất, theo nguyện vọng khi còn sống Cụ được gia đình,bạn
bè chôn cất dưới chân núi Cố thuộc xã Phú hải, cách
thành phố Phan Thiết 9km về phía Đông.
Nguyễn
Thông sinh ngày 28 tháng 5 năm 1927 tại làng Bình Thạnh,
tổng Thạch Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An,
tỉnh Gia Định. Ông là ngừơi học rộng, tài cao, được
triều đình Huế giao giữ nhiều chức vụ quan trọng và
được bổ nhiệm làm quan ở một số tỉnh, trong đó có
tỉnh Bình Thuận, Vĩnh Long, Quảng Ngãi. Tuy làm quan trong
triều nhưng ông rất căm thù thực dân Pháp. Những năm
ở Bình Thuận Nguyễn Thông đã có ý thức chuẩn bị
kế hoạch xây dựng căn cứ chống Pháp lâu dài. Ông đã
đi rất nhiều nơi trong tỉnh Bình Thuận, đã phát hiện
nhiều khu vực đất đai trù phú như khu vực sông La Ngà,
Đức Linh và chính những
điều tai nghe mắt thấy sau này để lại cho ra đời
nhiều tác phẩm văn thơ hay. Nguyễn Thông đã tập hợp
dân”tị địa” lập ra Đồng Châu xã” để tạo cho
họ có tổ chức tương tự làm ăn sản xuất ổn định
cuộc sống tại Bình Thuận sau khi lánh từ trong Nam ra.
Nguyễn Thông
mua đât cất nhà tại Phan Thiết và ông coi đây là quê
hương thứ hai của mình (khu vực di tích Dục Thanh hiện
nay). Năm 1880 ông cất thêm một ngôi nhà nhỏ đặt tên”Ngoạ
Du sào” nghĩa là “Tổ nằm chơi” để đọc sách làm
thơ. Đến nay trong “Ngoạ Du sào” vẫn còn hai câu
liễn của Nguyễn Tư Giãn tặng Nguyễn Thông cũng là
hiện vật trong khu di tích Dục Thanh. Là nhà trí thức yêu
nước, với vốn tích lũy nhiều, đi nhiều và hiểu
biết nhiều, ông đã làm nhiều thơ văn và ra đời hàng
chục quyển của các bộ “Ngọa Du sào tập”,
“Độn am văn tập”, “Kỳ xuyên văn sao”, “Dưỡng
chính lục”....
Những năm tháng
cuối đời Nguyễn Thông đã để lại cho bạn bè, gia đình
và nhân dân Phan Thiết tấm lòng kính yêu. Ông mất ngày
7 tháng 7 năm 1884 (Tức ngày 27/8 năm Giáp Thân)
Mộ chí của
Nguyễn Thông xây cất dưới chân núi Ngọc Sơn (núi
Cố) thuộc thôn Ngọc Lâm xã Phú Hải, thành phố Phan
Thiết. Lúc còn sống Nguyễn Thông thường ngày qua đây
chọn núi Cố làm nơi yên nghỉ của mình. Núi Cố có
nhiều cây cối, chim chóc, dưới chân núi là biển cả
tạo nên phong cảnh sơn thủy hữu tình.
Ngôi mộ được
xây giản dị, gần gũi như tấm lòng và con người của
ông. Mộ có chiều dài 9,45m rộng 6,35 m phần chính mộ
đắp hình con lân như những ngôi mộ người xưa. Trên
mộ có tấm bia bằng đá, khắc chữ Hán, nội dung trên
bia là bài văn bia do chính Nguyễn Thông viết :
“...Sau khi ta
trăm tuổi rồi, hồn phách còn nhớ đến núi này chăng?
hoặc rốt cuộc cũng về chốn không còn gì chăng? Điều
đó đều không thể biết được. Còn như trăng biển,
buồm ngư phủ, chòi tiều phu vẽ lạ của khói mây thay
đổi, hình thù của thuồng luồng chập chờn, sau này
cảnh đó có thể giúp vào cuộc thưởng thức của tao
nhân du khách vậy.”
Khu
lăng mộ cụ Nguyễn Thông đã được Nhà nước xếp
hạng di tích lịch sử năm 1999.
Tháng 7
năm 1917 công tước De Montpensier bán lại cho chủ khách
sạn người Pháp Prasetts...Sau khi có Lầu Ông Hoàng một
người Pháp tên Bell đã xây dựng Hotel Ngọc Lâm ở
quả đồi bên cạnh để phục vụ người Pháp. Vài
chục năm sau thi sĩ Hàn Mạc Tử
đã đến địa danh này và đã để lại nhiều
kỷ niệm khiến cho Lầu ông Hoàng càng có ý nghĩa. Trong
kháng chiến chống Pháp biệt thự này đã bị tiêu
hủy, ngày nay chỉ còn lại toàn bộ nền móng, hầm
ngầm chứa nước và những ký ức trong người dân Phan
Thiết.
Cũng
tại Lầu ông Hoàng quân Pháp xây dựng ở đây một hệ
thống đồn bót với nhiều lô cốt bê tông cốt thép
chắc chắn để khống chế khu vực thị xã Phan Thiết.
Ngày 14 tháng 6 năm 1947, nơi đây đã diễn ra trận đánh
tuyệt vời của một tiểu đội thuộc đơn vị Hoàng
Hoa Thám do đồng chí Nguyễn Minh Châu chỉ huy diệt
nhiều địch, thu nhiều súng đạn các loại, trong đó có
một khẩu đại liên Vitke, một súng trung liên Bren và
nhiều chiến lợi phẩm khác từ đó nhân dânta quen gọi
là chiến thắng lầu Ông Hoàng. Hiện nay Lầu Ông Hoàng
là một quần thể du lịch hấp dẫn bao gồm : nhóm tháp
Chàm cổ, bên cạnh tháp có chùa Bửu Sơn cổ kính, dưới
chân đồi là bờ biển, cửa sông Phú Hài, núi Cố nơi
có mộ của nhà thơ Nguyễn Thông...Tất cả hợp thành
một quần thể di tích lịch sử văn hoá và danh lam
thắng cảnh ở Phan Thiết.
VẠN
THỦY TÚ
Vạn Thủy Tú được ngư dân Thủy
Tú thiết lập vào năm Nhâm Ngọ 1762 để thờ Ông (cá
voi). Lúc mới xây dựng xong cửa vạn sát ngay bờ biển,
ngày nay bờ biẻn đã lùi xa ra ngoài 100m.Ngày nay Vạn
Thủy Tú tọa lạc trên đường Ngư Ông, phường Đức
Thắng, Tp. Phan Thiết.Khác với những đình làng thường
xây để thờ Thành Hoàng làng, còn vạn, dinh lại thờ Cá
Ông (cá Voi) và thường xây dựng ngay trước bờ biển
của làng Ngư.Theo
ngư dân Bình Thuận cá Ông là vị thần cứu giúp ngư dân
mỗi khi gặp tai nạn trên biển, và là vị thần chung
thủy với Ngư dân nên được Ngư dân kính yêu và tôn
trọng.
Vạn Thủy Tú từ ngày xây dựng xong đến nay đã chứa
gần 100 bộ xương cá Voi và nhiều loài khác cùng họ. Hơn
một nữa các bộ xương đó có niên đại trên 100 -150 năm,
trong đó có những bộ xương to lớn được thờ phụng
tôn nghiêm. Trong khuôn viên của Vạn có một doi đất
rộng, dùng để mai táng Cá Ông mỗi khi ông
"lụy" và dạt từ biển vào. Mỗi lần mai táng
xong, sau 3 năm mới được thương cốt nhập tẩm theo
phong tục.Trong số ngư dân hễ người nào trông thấy Ông
trước thì người đó làm con trưởng của Ngài, và
nguời này phải lo đám tang chu đáo, để tang sau 3 năm
mới hết hạn v.v...
|
Bí mật của những bộ hài cốt “Ông Nam Hải” |
|
...
Người
nổi tiếng "có duyên" nhất Vạn Thuỷ Tú là
ông Nguyễn Sáu - thường gọi là ông Sáu Vẹo -
một ngư phủ đã gặp "Ông" lụy không dưới
15 lần. Có lần kéo lưới lên, thấy "Ông"
mắc lưới, ông Sáu đành bỏ mẻ cá ấy để đưa
"Ông" ra; nhưng đến hai lần sau vẫn thấy
"Ông" chui vào trở lại, ông Sáu cho rằng
"Ông" sắp luỵ nên đã chọn mình để ký
thác xương cốt. Ông Sáu đành bỏ chuyến biển hôm
ấy để đưa "Ông" vào bờ, lên Ngọc Lân
thánh địa trong đình Vạn Thuỷ Tú nằm chờ
chết...
|

|
|
Bộ
ngà |
Những ngày
đầu năm này, hàng ngày có nhiều người dân Phan
Thiết lui tới đình Vạn Thuỷ Tú để xem việc
phục chế bộ xương cá voi lớn nhất Việt Nam. Công
việc được tiến hành ở ngôi đình có 240 năm
tuổi, gần bằng thời gian thành lập tỉnh Bình
Thuận. Dự kiến công trình phục chế bộ xương cá
voi còn nguyên cặp ngà ấy sẽ khánh thành vào dịp
lễ Tế Xuân, ngày 20/2 âm lịch (22/3/2003).
Thông tín viên BinhThuanToday đã tới ngôi đình độc đáo
còn lưu giữ khoảng 600 bộ hài cốt cá voi này.
Từ xa xưa, ngư dân duyên hải miền Trung có tín ngưỡng
thờ cúng cá voi như vị thần hộ mệnh. Với sự tôn
kính đặc biệt và nhớ ơn loài cá khổng lồ qua
những truyền thuyết cứu nạn người đi biển khi
gặp bão to sóng dữ, họ gọi cá voi là "Ông
Nam Hải".
Khoảng sau năm 1693, theo chân những đoàn quân nhà
Nguyễn, những ngư phủ vùng Nam, Ngãi, Bình, Phú…
đã đưa gia đình lên thuyền xuôi về phương Nam,
đổ bộ lên cửa biển Phố Hài lập nghiệp. Khi
những cộng đồng ngư dân đã an cư, ngoài việc
lập đình thờ Thành hoàng và chư vị tiên hiền như
những làng xã chuyên sống bằng nghề nông, họ còn
lập đền miếu thờ Ông Nam Hải. Trải qua bao dâu
biển đổi thay, bên hữu ngạn cửa sông Phan Thiết
ngày nay - thuộc phường Đức Thắng, thành phố
Phan Thiết - có một ngôi đình toạ lạc tại số
20A đường Ngư Ông được xếp hạng di tích cấp
quốc gia vào năm 1996 là Đình Vạn Thuỷ Tú.
Đình được dựng lên vào năm Nhâm Ngọ (1762),
mặt hướng ra biển Đông. Kiến trúc đình nhỏ và
bình thường như những đình làng khác ở miền
Trung, nhưng bên trong có nhiều điểm khác biệt. Hương
án chính giữa đình Vạn Thuỷ Tú thờ Nam Hải cự
tộc Ngọc Lân tôn thần; bên trái thờ Thuỷ Long thánh
phi nương nương tôn thần và bên phải thờ Thái
hiệu tiên sư tôn thần. Cạnh chính điện còn có
miếu thờ đức Quan thánh. Phía sau là những phòng
lưu trữ, bảo tồn chừng 600 bộ hài cốt của các
"Ông", "Bà" và "Cậu", là
những hải thần phò trợ, cứu mạng người đi
biển theo quan niệm của ngư dân. Theo ông Nguyễn Xèng
- một lão ngư 69 tuổi, gốc người Quảng Điền
(Thừa Thiên-Huế), ngư dân địa phương gọi cá Ông
lớn là Ông Nam Hải, nhỏ là Cậu; gọi các loài rùa
biển là Bà sống khến, Bà Năm, Bà Bảy... Những
vị hải thần này thường tấp vào bờ để
"luỵ" (chết), cũng có khi chui vào lưới
của các ngư phủ khi sắp "luỵ". Hàng năm,
ngư dân Thuỷ Tú cũng vớt được "Ông"
hoặc các "Bà" luỵ, có năm tới 6-7 trường
hợp cả ven bờ và trên biển…
|

|
|
Trong
đình có 600 bộ xương cá voi |
Người nổi
tiếng "có duyên" nhất vạn Thuỷ Tú là ông
Nguyễn Sáu - thường gọi là ông Sáu Vẹo - một ngư
phủ đã gặp "Ông" luỵ không dưới 15
lần. Có lần kéo lưới lên, thấy "Ông"
mắc lưới, ông Sáu đành bỏ mẻ cá ấy để đưa
"Ông" ra; nhưng đến hai lần sau vẫn thấy
"Ông" chui vào trở lại, ông Sáu cho rằng
"Ông" sắp luỵ nên đã chọn mình để ký
thác xương cốt. Ông Sáu đành bỏ chuyến biển hôm
ấy để đưa "Ông" vào bờ, lên Ngọc Lân
thánh địa trong đình Vạn Thuỷ Tú nằm chờ
chết.
Ngọc Lân thánh địa là nghĩa trang chôn cất
thi hài các vị hải thần mới chết, trước khi
được bốc mộ rửa sạch xương cốt đưa vào
thờ phụng trong đình. Đó là một khoảnh đất có
hàng rào bao quanh nằm trước sân đình, bên trong có
một am nhỏ để thắp hương và nhiều loại hoa
được trồng xen giữa 24 ngôi mộ đắp đất. Hàng
năm, đình Vạn Thuỷ Tú có 5 kỳ tế lễ vào các
ngày âm lịch: 20-2 (Tế Xuân); 20-4 (Cầu ngư); 20-6
(Chính mùa); 20-7 (Chèo dọc) và 23-8 (Mãn mùa, cúng
giỗ Ông).
Không chỉ những ngư phủ mới tin vào sự phù trợ
của các vị hải thần như một tín ngưỡng dân
gian mang tính truyền thống. Các vị vua nhà Nguyễn
cũng ghi nhận công lao đó với 24 điệu sắc thần.
Trong số đó, riêng vua Thiệu Trị ban tặng đến 10
điệu sắc thần, còn lại là của các đời vua
Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân, Khải Định...
Những điệu sắc thần viết trên giấy thủ công -
trong đó, 10 bản đã có hơn 150 năm tuổi nhưng
vẫn được giữ gìn cẩn trọng, nguyên vẹn trong
ngôi đình Vạn 240 năm tuổi này. Đình Vạn Thuỷ Tú
hiện còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá
trị liên quan đến lịch sử hình thành và phát
triển cộng đồng cư dân nghề cá vùng hữu ngạn
cửa sông Phan Thiết do các bậc tiền bối để
lại. Trong đó, có chiếc chuông đồng đúc vào năm
Nhâm Thân (1872), đến nay đã được 130 năm; thân
chuông có dòng chữ "Tự Đức nhị thập ngũ niên
- Xuân quý giáo đáng - Thuỷ Tú Vạn - Bổn Vạn đồng
ký".
Trong hàng trăm bộ hài cốt lưu giữ tại đình
Vạn Thuỷ Tú có hai bộ xương cá voi rất lớn. Tài
liệu cũ chép rằng: "Thuở mới lập Vạn xong,
một hôm Ngài bị luỵ ở ngoài khơi trôi về ngay
trước cửa Vạn. Vì Ngài lớn quá (dài hơn 20m,
nặng tới vài chục tấn) nên mãi hai ngày sau, với
sự giúp sức của ngư dân các làng lân cận đến
giúp mới tẩm liệm xong cho Ngài". Ông Nguyễn Xèng
lại kể rằng: "Khi Ngài lụy, bạn chài nhiều
làng đang đánh cá cùng phát hiện và tranh nhau đưa
về thờ phụng. Lúc ấy, Vạn Thuỷ Tú đông người,
nhiều ghe nên đưa được Ngài về vùng nước
cạnh hòn Lao (trước mặt đình Vạn) rồi đóng
cọc buộc giữ xác ngài để thuỷ táng vì không có
cách nào kéo lên bờ được. Sau ba năm mới đưa xương
cốt Ngài vào đình bảo quản, thờ phụng".
Theo ông Xèng, bộ xương lớn nhất (dài hơn 18m) có
niên đại chừng 110 năm, bộ lớn thứ nhì (dài
14m) của Ông luỵ năm 1953.
Hiện nay, UBND thành phố Phan Thiết giao cho Phòng Văn
hoá Thông tin làm chủ đầu tư công trình phục
chế, lắp dựng bộ xương cá voi lớn nhất đặt
tại đình Vạn Thuỷ Tú, dự kiến sẽ khánh thành
vào dịp lễ Tế Xuân, ngày 20/2 âm lịch (nhằm
22/3/2003). Ông Đào Văn Chừ - Trưởng phòng VHTT thành
phố Phan Thiết cho biết, đã tham khảo, tìm hiểu
nhiều nơi, cuối cùng chọn phương án nhờ sự hỗ
trợ của Viện Hải Dương Học (HDH) Nha Trang, giao
cho DNTN Lê Vũ (Nha Trang) thiết kế, thi công phục
chế, lắp dựng bộ xương cá voi này. Ông Đào
Tấn Hỗ - Trưởng phòng Bảo tàng HDH Nha Trang cho
biết:" Bộ xương cá Ông này sau khi phục chế
có lẽ là bộ xương lớn nhất ở nước ta và cũng
có thể lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á, sẽ
tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học đến
nghiên cứu và khách du lịch đến chiêm ngưỡng".
Hàng ngày,
nhiều người dân địa phương thường lui tới đình
Vạn Thuỷ Tú xem việc phục chế đang được tiến
hành kể từ đầu tháng 1/2003. Một người dân nói:
"Cả đời tôi chưa được tận mắt thấy nguyên
hình bộ xương Ông Nam Hải. Tôi thấy rất vui khi
ngay tại đây sẽ có một công trình ý nghĩa như
vậy. Tuy nhiên, việc chặt bỏ cây cổ thụ để xây
dựng ngôi nhà để đặt bộ xương Ngài choán hết
nửa sân đình Vạn Thuỷ Tú như vật thiệt cũng
uổng vì cảnh quan bị phá vỡ, che khuất cả ngôi
đình cổ xưa nhất Phan Thiết này. Rồi đây,
những ngày tế lễ hàng năm của Vạn cũng sẽ
gặp nhiều trở ngại vì sân đình quá chật
hẹp".
Đình Vạn Thuỷ Tú là di tích văn hoá tín ngưỡng
địa phương có niên đại sớm nhất ở Phan Thiết
và cả tỉnh Bình Thuận - tính đến nay đã được
240 năm, gần bằng thời gian thành lập tỉnh Bình
Thuận - là kiến trúc đánh dấu sự hình thành và
phát triển nghề cá và cộng đồng ngư dân địa
phương, một bộ phận quan trọng trong cơ cấu xã
hội ở Phan Thiết, Bình Thuận.
|
Về
việc phục chế bộ xương cá voi ở Vạn
Thuỷ Tú
- Năm 1995, một bộ xương cá voi dài gần 18m
đã được phục chế, lắp đặt tại Viện
Hải Dương Học (HDH) Nha Trang. Lúc ấy, bộ xương
cá voi này được coi là có kích thước lớn
nhất được phát hiện ở Việt Nam. Thực
ra, bộ xương cá voi lớn nhất ở đình Vạn
Thuỷ Tú đã được bảo quản, lưu giữ từ
nửa sau thế kỷ 19 có kích thước lớn hơn
nhưng chưa được các nhà quản lý và giới
khoa học biết đến. Theo ông Đào Tấn Hỗ -
Trưởng phòng Bảo tàng Viện HDH Nha Trang - dù
công việc phục chế đang tiến hành, chưa có
được số đo chính xác nhưng có thể xác định
chiều dài bộ xương ở Vạn Thuỷ Tú dài hơn
18m.
-Bộ xương ở Viện HDH Nha Trang bị vỡ
nhiều xương sườn và không có cặp ngà.
Bộ xương ở Thuỷ Tú còn nguyên cặp ngà quý
giá nhưng thiếu khá nhiều đoạn xương
sống và xương đầu bị vỡ, sứt nhiều
chỗ do quá trình dịch chuyển và chất
những bộ xương khác chồng lên. Để khiêng
bộ xương đầu ra khỏi hậu đình, đem ra nhà
võ ca để phục chế, gần hai chục thanh niên
lực lưỡng phải gồng mình hết sức mới
nhấc lên nổi.
- Bộ xương ở Vạn Thuỷ Tú thiếu: 14/63 đốt
xương sống; 4/30 chiếc xương sườn; 4 đốt
xương treo, 13 đốt xương chi trước và 8 xương
móng, vi.
- Công nghệ composite được dùng phục chế
bộ xương cá voi ở Vạn Thuỷ Tú, có khả năng
chịu đựng khí hậu vùng biển nhiệt đới
tốt hơn thạch cao đã dùng cho bộ xương ở
Viện HDH Nha Trang. Toàn bộ khung đỡ, giá
treo dùng inox. Bục đế hình chiếc thuyền
bằng gỗ hương. Mặt sàn lót mica với hệ
thống đèn chiếu tạo hình ảnh sóng biển.
Thiết kế và thi công do DNTN Lê Vũ (Nha Trang)
đảm nhận với sự tư vấn về khoa học
của các ông Đào Tấn Hỗ và Chu Anh Khánh
(Viện HDH Nha Trang). |
|
Vạn Thủy Tú là một trong những dinh, vạn cổ xưa
nhất của Bình Thuận, được ngư dân làm biển coi như
thủy tổ nghề biển. Vạn Thủy tú còn là một trong
những di tích cổ có số lượng lớn sắc phong của các
vị Vua triều Nguyễn ban tặng để thờ cá Ông và các
vị Hải Thần. Vạn Thủy tú đã được Nhà nước xếp
hạng di tích lịch sữ cấp Quốc gia năm 1996.

Từ
thế kỷ XVI-XVII người Việt đã di cư đến đảo Phú
Quý ngày càng đông, cộng với một số ngư dân đi
biển bị bão tố trôi dạt vào và ở lại định cư làm
ăn. Khi cuộc sống ổn định ngư dân các làng trên Đảo
bắt đầu xây dựng dinh, vạn để thờ Thần Nam Hải (
cá voi) vị thần phù hộ về mặt tinh thần cho những người
đi biển. Đó cũng là phong tục truyền thống tín ngưỡng
của người Việt đối xử với cá voi vị thần biển
cả, ân nhân cứu mạng che chở cho họ khi đi biển và làm
ăn trên biển.
Vạn
An Thạnh được kiến tạo hoàn chỉnh năm Tân Sửu 1781
tại bờ biển làng Triều Dương, xã Tam Thanh huyện đảo
Phú Quý, cách thành phố Phan Thiết 120 hải lý về hướng
Đông.
Vạn
An Thạnh xây dựng theo lối kiến trúc dân gian của người
Việt như dạng đình làng trong đất liền các kiến trúc
chính gồm chính điện, nhà Tiền hiền, Võ ca. Bên trong
vạn còn có chỗ chứa xương
cốt cá voi gọi là Tẩm.
Theo
tài liệu lưu trữ tại
vạn năm Tân Sửu 1841 một con cá voi khổng lồ dạt vào
biển trước vạn An Thạnh. Ngư dân trên Đảo đã tổ
chức mai táng “ông” với nghi thức long trọng và tôn
nghiêm. Đây là “ông” lớn nhất và cũng là vị đầu
tiên được mai táng ở vạn nên được ngư dân
gọi là “vị cố” và lấy ngày 15 tháng 10 âm
lịch hàng năm (ngày ông lụy) làm ngày giỗ chính thức
của vạn An thạnh và cũng là ngày Tế Thu. Năm 1960 có
một “cá ông” lớn trôi vào, chiều dài trên 25m, mai táng
xong 3 năm sau đó ngư dân được mùa liên tiếp.
Gắn
với việc mai táng thờ cúng cá Voi là một lễ hội
của ngư dân. Trong nếp sống, phong tục và sinh hoạt
của ngư dân ở đây, lễ cúng cá voi rất được chú
trọng và là lễ to nhất so với các lễ khác như ngày
hội làng thời trước. Mở đầu lễ hội, nhân d6an
chuẩn bị ghe thuyền, cờ, quạt, trống chiêng ra khơi
nghinh đón cá ông. Đội chèo Bả Trạo trong trang phục
chỉnh tề biểu diễn những tiết mục dân gian chào
mừng.
Vạn
An Thạnh đến nay còn lưu giữ gần 70 bộ xương cốt các
loài cá voi. Có thể coi đây là một
bảo tàng Hải dương học với những bộ sưu tập
phong phú về cá Voi. Nhờ có vạn An Thạnh, nơi thờ cúng
thần Nam Hải nên ngư dân rất an tâm khi ra khơi đánh
bắt hải sản vì đã có “Ông Nam Hải” phù trợ tránh
mọi nguy hiểm trên biển.
Đối
với triều Nguyễn tất cả những lăng vạn thờ cá ông
đều được tôn trọng, vì theo sự tin sùng của nhân dân,
cá ông đã nhiều lần giúp Nguyễn Ánh thoát nạn trên
biển. Vạn An Thạnh được các vua Triều Nguyễn ban
tặng 10 sắc phong. Nội dung các sắc thần chủ
yếu ban tặng “Nam Hải cự tộc Ngọc Lân” và những
“tướng lĩnh” giúp Nguyễn Ánh thoát nạn trên đảo
khi bị quân Tây Sơn đánh đuổi. Vạn An Thạnh tồn
tại trên 200 năm từ ngày thành lập, gắn liền với
lịch sử hình thành Đảo Phú Quý như một chứng nhân
bao đời của lịch sử vùng đảo, ở đó chứa đựng
nhiều giá trị vật chất, tinh thần và cả về tín
ngưỡng nghề nghiệp của ngư dân đảo Phú Quý.
Vạn
An Thạnh đã được Bộ Van Hoá Thông tin công nhận xếp
hạng di tích lịch sử văn hoá tại quyết định số
51-QĐ/BT ngày 12 tháng 1 nắm 1996.
HẢI
ĐĂNG KHE GÀ
Hải
Đăng Khe Gà được xây dựng trên đỉnh đảo Khe Gà, đảo
có diện tích 5ha ở vùng biển xã Tân Thành, trước
thuộc huyện Hàm Tân, nay thuộc huyện Hàm Thuận Nam, cách
Phan Thiết 30km về phía Đông Nam. Hải Đăng Khe Gà do
một người Pháp tên là Chnavat kỹ sư thiết kế, xây
dựng để hướng dẫn tàu thuyền qua lại, khởi công
từ tháng 2 năm 1897, đến cuối năm 1898 mớI khánh thành,
đến nay vẫn còn một tấm đá hoa cương lớn đặt ngay
trước của vào Hải Đăng khắc số 1899. Hải Đăng Khe
Gà chính thức hoạt động năm 1900. Nhân viên điều hành
gồm có một người Pháp (trạm trưởng) và 8 người
Việt canh giữ đèn. Đảo Khe Gà cách bờ biển 500m,
những ngày nước ròng, từ bờ biển có thể lội ra đảo
được. Lúc triều cường và có gió đi lại rất vất
vả. Trên
đảo ngọn Hải đăng được xây dựng tương đối đồ
sộ, có lẽ đây là ngọn Hải đăng cao nhất trong nước,
xây bằng đá hoa cương, hình bát giác. Đá hoa cương xây
ở Hải Đăng Khe Gà chưa biết người Pháp đưa từ đâu
đến vì trong khu vực này không có loại đá này. Và không
phải chỉ những viên đá bình thường có 4 góc mà tất
cả những khối đá hoa cương dùng xây Hải đăng đều
đã được chạm, khắc thành từng ô, từng hình cụ
thể, khớp với nhau. Tháp đèn xây bằng đá cao 35m, độ
cao toàn bộ từ mặt đất đến chóp đèn là 41,5m, độ
cao từ tầm ngọn đèn đến mặt biển là 65m, kích thước
cạnh của tháp (chân tháp) là 2,60m. Trên ngọn tháp có bóng
đèn lớn 2000W làm tín hiệu hướng dẫn tàu bè qua
lại.
Ngoài ngọn Hải đăng, còn có một căn nhà lớn hình vuông
mỗi cạnh 40m, dưới nhà là một hầm chứa nước sâu
3m, trước nhà có một cái giếng gọi là giếng Tiên.
Từ dưới mép nước biển đến Hải đăng hàng chục
bậc tam cấp. Hai hàng hoa sứ dọc theo lối đi và xung
quanh chân Hải đăng do người Pháp trồng từ cuối thế
kỷ 19 đến nay vẫn còn nguyên, tỏa bóng mát quanh năm.
Lên ngọn Hải đăng có 184 bậc thang xoắn ốc bằng thép
dẫn đến đỉnh Hải Đăng cùng hàng chục bậc tam cấp
lên đến đỉnh đèn, tấc cả đều được đưa từ Pháp
sang, kể cả ngọn đèn trên đỉnh, máy phát điện.
Hiện nay hòn Đảo Khe Gà và ngọn Hải Đăng đã và đang
trở thành điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách.
Bởi Hải Đăng Khe Gà vừa là thắng cảnh vừa là di tích
kiến trúc độc đáo.
Trang
2