TRƯỜNG
DỤC THANH
Trường
Dục Thanh xây dựng nãm 1907 (cùng năm xây dựng với Trường
Ðông Kinh Nghĩa Thục) tọa lạc trên địa bàn làng Thành
Ðức nay là số nhà 39 đường Trưng Nhị, phường Ðức
Nghĩa, Tp. Phan Thiết, để hưởng ứng phong trào Duy Tân
do cụ Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp và do các cụ Nguyễn
Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh (hai người con nhà vãn - thơ
yêu nước Nguyễn Thông) thành lập. Mục tiêu của phong
trào Duy Tân và của trường là mở mang dân trí, thức
dậy ý thức dân tộc, nòi giống. Ðây là trường tư
thục có nội dung giảng dạy tiến bộ nhất ở Bình
Thuận lúc bấy giờ.
Nãm
1910 trên đường ði tìm đường cứu nước, Thầy giáo
Nguyễn Tất Thành (sau này là Chủ Tịch Hồ Chí Minh)
được cụ nghè Trương Gia Mô giới thiệu đã đến Phan
Thiết và dừng chân dạy học ở trường Dục Thanh.
Học sinh của trường có khoảng 60 ngườI cùng 7 thầy
giáo giảng dạy các bộ môn: Hán Văn, Pháp Văn, thể
dục thể thao, ....
Thầy Thành dạy lớp nhì, chủ yếu là dạy quốc ngữ,
Hán văn. Trong thời gian dạy học ở trường Dục Thanh
ngoài nội dung được phân công giảng dạy thầy Thành còn
bằng tình cảm người thầy, người anh đã truyền bá lòng
yêu nước, nòi giống tổ tiên cho học sinh. Những giờ
học ngoại khóa, những lúc rảnh rỗi Thầy Thành dẫn
học sinh du ngoại cảnh ðẹp ở thị xã Phan Thiết lúc
bấy giờ như bãi biển Thương Chánh, động làng Thiền,
đình làng Ðức Nghĩa.

Vào khoảng tháng 2 nãm 1911, Thầy Thành rời trường
Dục Thanh và Phan Thiết vào Sài Gòn vượt ðại dương
đi tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc. Một vài
nãm sau, ông Nguyễn Trọng Lội qua ðời, ông Nguyễn Quý
Anh chuyển vào Sài Gòn, không còn người phụ trách và
do nhiều lý do khách quan nên trường đóng cửa vào nãm
1912.
Ngôi trường xưa Bác dạy đã bị hư hỏng và dỡ bỏ
từ lâu. Nhưng trong số học sinh thầy Thành dạy nãm xưa
vẫn còn 4 người còn sống. Sau ngày quê hương được
giải phóng, nguyện vọng của nhân dân là muốn phục
chế lại ngôi trường Dục Thanh xưa để tỏ lòng biết
ơn Bác Hồ kính yêu và giáo dục truyền thống yêu nước
cho các thế hệ hiện nay và mai sau.
Nhà
Ngư được xây dựng từ năm 1906 và từ năm 1908 trở đi
dùng làm nơi nội trú của học sinh cũng được khôi
phục lại.
Ngọa du sào là ngôi nhà được xây dựng từ nãm 1880
của cụ Nguyễn Thông. Vào những nãm cuối ðời cụ
Nguyễn Thông ở tại căn nhà này ngâm thơ, bình văn và
luận bàn công việc với các sĩ phu yêu nước. Lúc ở
trường Dục Thanh thầy Thành đọc sách, soạn bài ở
Ngọa du sào, ngôi nhà này cũng được tu bổ lại, hiện
vật bên trong bị xáo trộn và mất mát khá nhiều.
Cây Khế, Giếng Nước gắn bó với cuộc đời làm
Thầy của Bác Hồ ở Dục Thanh nên nó cũng là điểm chính
trong khu di tích.
Những hiện vật gốc từ thời thầy Thành dạy
học đến nay vẫn còn lưu giữ lại: Một bộ trường
kỷ, một bộ ván, chiếc án thư, nghiên mài mực, một
chiếc tủ đứng, tráp vãn thư, 3 chiếc ly nhỏ, 1 chiếc
khay. Tất cả đều cũ kỹ nhưng được cất giữ bảo
quản tốt. Ðó là những kỷ vật thiêng liêng gắn
liền với thời gian và lịch sử của những ngày dạy
học ngắn ngủi ở Phan Thiết của thầy giáo Nguyễn
Tất Thành.
LẦU
ÔNG HOÀNG
Lầu Ông Hoàng bao gồm
một quần thể đồi núi, sông, biển, chùa tháp tạo thành
khu danh lam thắng cảnh nổi lên với ngọn núi Cố tương
đối cao và 4 ngọn đồi nhấp nhô sát biển, đẹp
nhất là núi Cố, đồi Bà Nài, cửa sông Phú Hài và
bờ biển cùng những làng chài xưa cách Phan Thiết 7km
về hướng Đông Bắc.
Năm 1911 một ông Hoàng người Pháp là công tước De
Montpensier từ Pháp sang du lịch, săn bắn ở những ngọn
đồi lân cận, thấy phong cảnh sơn thủy đẹp ở đây
khiến ông nảy sinh ý định mua đất và xây dựng biệt
thự, cũng để có nơi nghỉ nghơi trong các kỳ săn bắn
và du lịch sau này. Nguyện vọng của ông đã được nhà
cầm quyền Pháp ở Bình Thuận (công sứ Garnier) đồng
ý bán quả đồi Bà Nài. Ngày 21 tháng 2 năm 1911 biệt
thự được khởi công xây dựng và gần 1 năm sau đó hoàn
chỉnh, với diện tích rộng 536m2 chia thành 13
phòng. Khu biệt thự được xây cách nhóm đền tháp PôSaNư
gần 100m về phía Nam. Đây là khu biệt thự đẹp, đầy
đủ tiện nghi, ban đêm có máy phát điện dưới biệt
thự có nhiều hầm chứa nước mưa đủ cho những
nguời trong biệt thự dùng trong 1 năm, được coi là
hiện đại nhất Bình Thuận lúc bấy giờ. Từ đó nhân
dân Phan Thiết quen gọi khu vực này là đồi "Lầu
Ông Hoàng". Vài chục năm sau thi sĩ Hàn Mạc Tử đã
đến địa danh này và đã để lại nhiều kỷ niệm
khiến cho Lầu Ông Hoàng càng có ý nghĩa.
Hiện nay, Lầu Ông Hoàng là một quần thể du lich hấp
dẫn bao gồm: Nhóm Tháp Chăm Cổ, bên cạnh có chùa Bửu
Sơn cổ kính, dưới chân đồi là bờ biển, cửa sông
Phú Hài, núi Cố.... Tất cả hợp thành một quần thể
di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh của
Phan Thiết.
HÒN BÀ
Hòn
Bà là một hòn đảo nhô cao lên giữa biển, cách bờ biển
Lagi, huyện Hàm Tân gần 2km hướng về phía Đông. Cách Phan
Thiết khoảng 70km về phía Đông Nam. Hòn bà là ngọn núi trẻ,
trên núi có nhiều cây cổ thụ lớn. Nữa đầu thế kỷ XVII
người Chăm đã dựng lên một ngôi đền thờ nữ Thần Thiên
Ya Ana - vị thần thiêng liêng của Vương Quốc Chăm-pa cổ. Cũng
từ đây hòn đảo có tên gọi là Hòn Bà. Ngôi đền thờ có
kết cấu kiến trúc và trang trí nghệ thuật giống như ngôi
miếu của ngườI Việt cùng thời. Trong ngôi đền thờ, tượng
nữ Thần Thiên Y Ana bằng đá, được các nghệ nhân Chăm tạc
từ một khối đá nguyên tại chỗ. Việc thờ tượng Bà ở
trên đỉnh Hòn Bà thể hiện sự tôn vinh của người Chăm
với
Nữ Thần. Mặt khác ở những thế kỷ trước đây, nghề biển
là nghề chính thu hút đông đảo ngư dân Chăm ven bờ mà dấu
vết của những làng ngư cổ vẫn còn. Do vậy, việc thờ tượng
nữ Thần ở đây là sự cầu mong cho nữ thần phù hộ, cứu
nạn cho họ trên biển. Hàng năm người Chăm ở các nơi thường
đến đây làm lễ cầu mưa và các nghi lễ tôn giáo khác.
Hòn Bà người ta biết đến và ngưỡng mộ không phải chỉ
bằng chính ngôi đền cổ mà bởi ở đây là hòn đảo cheo
leo giữa biển hấp dẫn mọi người bằng chính cảnh đẹp của
nó cộng với sự hùng vĩ mênh mông của biển cả và đồi dương
bên trong bờ càng làm cho phong cảnh ở đây đẹp thêm
KHU LĂNG
MỘ NGUYỄN THÔNG
Nguyễn Thông là nhà trí thức yêu nước,
nhà thơ, nhà văn và nhà hoạt động xã hội có ảnh hưởng
lớn ở miền Nam nước ta nửa đầu thế kỷ XIX. sau khi
mất, theo nguyện vọng khi còn sống Cụ được gia đình,bạn
bè chôn cất dưới chân núi Cố thuộc xã Phú hải, cách
thành phố Phan Thiết 9km về phía Đông.
Nguyễn
Thông sinh ngày 28 tháng 5 năm 1927 tại làng Bình Thạnh,
tổng Thạch Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An,
tỉnh Gia Định. Ông là ngừơi học rộng, tài cao, được
triều đình Huế giao giữ nhiều chức vụ quan trọng và
được bổ nhiệm làm quan ở một số tỉnh, trong đó có
tỉnh Bình Thuận, Vĩnh Long, Quảng Ngãi. Tuy làm quan trong
triều nhưng ông rất căm thù thực dân Pháp. Những năm
ở Bình Thuận Nguyễn Thông đã có ý thức chuẩn bị
kế hoạch xây dựng căn cứ chống Pháp lâu dài. Ông đã
đi rất nhiều nơi trong tỉnh Bình Thuận, đã phát hiện
nhiều khu vực đất đai trù phú như khu vực sông La Ngà,
Đức Linh và chính những
điều tai nghe mắt thấy sau này để lại cho ra đời
nhiều tác phẩm văn thơ hay. Nguyễn Thông đã tập hợp
dân”tị địa” lập ra Đồng Châu xã” để tạo cho
họ có tổ chức tương tự làm ăn sản xuất ổn định
cuộc sống tại Bình Thuận sau khi lánh từ trong Nam ra.
Nguyễn Thông
mua đât cất nhà tại Phan Thiết và ông coi đây là quê
hương thứ hai của mình (khu vực di tích Dục Thanh hiện
nay). Năm 1880 ông cất thêm một ngôi nhà nhỏ đặt tên”Ngoạ
Du sào” nghĩa là “Tổ nằm chơi” để đọc sách làm
thơ. Đến nay trong “Ngoạ Du sào” vẫn còn hai câu
liễn của Nguyễn Tư Giãn tặng Nguyễn Thông cũng là
hiện vật trong khu di tích Dục Thanh. Là nhà trí thức yêu
nước, với vốn tích lũy nhiều, đi nhiều và hiểu
biết nhiều, ông đã làm nhiều thơ văn và ra đời hàng
chục quyển của các bộ “Ngọa Du sào tập”,
“Độn am văn tập”, “Kỳ xuyên văn sao”, “Dưỡng
chính lục”....
Những năm tháng
cuối đời Nguyễn Thông đã để lại cho bạn bè, gia đình
và nhân dân Phan Thiết tấm lòng kính yêu. Ông mất ngày
7 tháng 7 năm 1884 (Tức ngày 27/8 năm Giáp Thân)
Mộ chí của
Nguyễn Thông xây cất dưới chân núi Ngọc Sơn (núi
Cố) thuộc thôn Ngọc Lâm xã Phú Hải, thành phố Phan
Thiết. Lúc còn sống Nguyễn Thông thường ngày qua đây
chọn núi Cố làm nơi yên nghỉ của mình. Núi Cố có
nhiều cây cối, chim chóc, dưới chân núi là biển cả
tạo nên phong cảnh sơn thủy hữu tình.
Ngôi mộ được
xây giản dị, gần gũi như tấm lòng và con người của
ông. Mộ có chiều dài 9,45m rộng 6,35 m phần chính mộ
đắp hình con lân như những ngôi mộ người xưa. Trên
mộ có tấm bia bằng đá, khắc chữ Hán, nội dung trên
bia là bài văn bia do chính Nguyễn Thông viết :
“...Sau khi ta
trăm tuổi rồi, hồn phách còn nhớ đến núi này chăng?
hoặc rốt cuộc cũng về chốn không còn gì chăng? Điều
đó đều không thể biết được. Còn như trăng biển,
buồm ngư phủ, chòi tiều phu vẽ lạ của khói mây thay
đổi, hình thù của thuồng luồng chập chờn, sau này
cảnh đó có thể giúp vào cuộc thưởng thức của tao
nhân du khách vậy.”
Khu
lăng mộ cụ Nguyễn Thông đã được Nhà nước xếp
hạng di tích lịch sử năm 1999.
Tháng 7
năm 1917 công tước De Montpensier bán lại cho chủ khách
sạn người Pháp Prasetts...Sau khi có Lầu Ông Hoàng một
người Pháp tên Bell đã xây dựng Hotel Ngọc Lâm ở
quả đồi bên cạnh để phục vụ người Pháp. Vài
chục năm sau thi sĩ Hàn Mạc Tử
đã đến địa danh này và đã để lại nhiều
kỷ niệm khiến cho Lầu ông Hoàng càng có ý nghĩa. Trong
kháng chiến chống Pháp biệt thự này đã bị tiêu
hủy, ngày nay chỉ còn lại toàn bộ nền móng, hầm
ngầm chứa nước và những ký ức trong người dân Phan
Thiết.
Cũng
tại Lầu ông Hoàng quân Pháp xây dựng ở đây một hệ
thống đồn bót với nhiều lô cốt bê tông cốt thép
chắc chắn để khống chế khu vực thị xã Phan Thiết.
Ngày 14 tháng 6 năm 1947, nơi đây đã diễn ra trận đánh
tuyệt vời của một tiểu đội thuộc đơn vị Hoàng
Hoa Thám do đồng chí Nguyễn Minh Châu chỉ huy diệt
nhiều địch, thu nhiều súng đạn các loại, trong đó có
một khẩu đại liên Vitke, một súng trung liên Bren và
nhiều chiến lợi phẩm khác từ đó nhân dânta quen gọi
là chiến thắng lầu Ông Hoàng. Hiện nay Lầu Ông Hoàng
là một quần thể du lịch hấp dẫn bao gồm : nhóm tháp
Chàm cổ, bên cạnh tháp có chùa Bửu Sơn cổ kính, dưới
chân đồi là bờ biển, cửa sông Phú Hài, núi Cố nơi
có mộ của nhà thơ Nguyễn Thông...Tất cả hợp thành
một quần thể di tích lịch sử văn hoá và danh lam
thắng cảnh ở Phan Thiết.
VẠN
THỦY TÚ
Vạn Thủy Tú được ngư dân Thủy
Tú thiết lập vào năm Nhâm Ngọ 1762 để thờ Ông (cá
voi). Lúc mới xây dựng xong cửa vạn sát ngay bờ biển,
ngày nay bờ biẻn đã lùi xa ra ngoài 100m.Ngày nay Vạn
Thủy Tú tọa lạc trên đường Ngư Ông, phường Đức
Thắng, Tp. Phan Thiết.Khác với những đình làng thường
xây để thờ Thành Hoàng làng, còn vạn, dinh lại thờ Cá
Ông (cá Voi) và thường xây dựng ngay trước bờ biển
của làng Ngư.Theo
ngư dân Bình Thuận cá Ông là vị thần cứu giúp ngư dân
mỗi khi gặp tai nạn trên biển, và là vị thần chung
thủy với Ngư dân nên được Ngư dân kính yêu và tôn
trọng.
Vạn Thủy Tú từ ngày xây dựng xong đến nay đã chứa
gần 100 bộ xương cá Voi và nhiều loài khác cùng họ. Hơn
một nữa các bộ xương đó có niên đại trên 100 -150 năm,
trong đó có những bộ xương to lớn được thờ phụng
tôn nghiêm. Trong khuôn viên của Vạn có một doi đất
rộng, dùng để mai táng Cá Ông mỗi khi ông
"lụy" và dạt từ biển vào. Mỗi lần mai táng
xong, sau 3 năm mới được thương cốt nhập tẩm theo
phong tục.Trong số ngư dân hễ người nào trông thấy Ông
trước thì người đó làm con trưởng của Ngài, và
nguời này phải lo đám tang chu đáo, để tang sau 3 năm
mới hết hạn v.v...
|
Bí mật của những bộ hài cốt “Ông Nam Hải” |
|
...
Người
nổi tiếng "có duyên" nhất Vạn Thuỷ Tú là
ông Nguyễn Sáu - thường gọi là ông Sáu Vẹo -
một ngư phủ đã gặp "Ông" lụy không dưới
15 lần. Có lần kéo lưới lên, thấy "Ông"
mắc lưới, ông Sáu đành bỏ mẻ cá ấy để đưa
"Ông" ra; nhưng đến hai lần sau vẫn thấy
"Ông" chui vào trở lại, ông Sáu cho rằng
"Ông" sắp luỵ nên đã chọn mình để ký
thác xương cốt. Ông Sáu đành bỏ chuyến biển hôm
ấy để đưa "Ông" vào bờ, lên Ngọc Lân
thánh địa trong đình Vạn Thuỷ Tú nằm chờ
chết...
|

|
|
Bộ
ngà |
Những ngày
đầu năm này, hàng ngày có nhiều người dân Phan
Thiết lui tới đình Vạn Thuỷ Tú để xem việc
phục chế bộ xương cá voi lớn nhất Việt Nam. Công
việc được tiến hành ở ngôi đình có 240 năm
tuổi, gần bằng thời gian thành lập tỉnh Bình
Thuận. Dự kiến công trình phục chế bộ xương cá
voi còn nguyên cặp ngà ấy sẽ khánh thành vào dịp
lễ Tế Xuân, ngày 20/2 âm lịch (22/3/2003).
Thông tín viên BinhThuanToday đã tới ngôi đình độc đáo
còn lưu giữ khoảng 600 bộ hài cốt cá voi này.
Từ xa xưa, ngư dân duyên hải miền Trung có tín ngưỡng
thờ cúng cá voi như vị thần hộ mệnh. Với sự tôn
kính đặc biệt và nhớ ơn loài cá khổng lồ qua
những truyền thuyết cứu nạn người đi biển khi
gặp bão to sóng dữ, họ gọi cá voi là "Ông
Nam Hải".
Khoảng sau năm 1693, theo chân những đoàn quân nhà
Nguyễn, những ngư phủ vùng Nam, Ngãi, Bình, Phú…
đã đưa gia đình lên thuyền xuôi về phương Nam,
đổ bộ lên cửa biển Phố Hài lập nghiệp. Khi
những cộng đồng ngư dân đã an cư, ngoài việc
lập đình thờ Thành hoàng và chư vị tiên hiền như
những làng xã chuyên sống bằng nghề nông, họ còn
lập đền miếu thờ Ông Nam Hải. Trải qua bao dâu
biển đổi thay, bên hữu ngạn cửa sông Phan Thiết
ngày nay - thuộc phường Đức Thắng, thành phố
Phan Thiết - có một ngôi đình toạ lạc tại số
|