|
Bình
Thuận là tỉnh thuộc miền duyên hải Nam Trung Bộ với
hơn 192 km chiều dài bờ biển,diện tích tự nhiên 7.849
km2, dân số trên một triệu người gồm nhiều dân tộc
khác nhau sinh sống .
|

|
|
Bãi
biển Mũi Né
|
Nằm
trên vị trí quan trọng là cửa ngõ giao lưu kinh tế - văn
hoá - xã hội với các khu vực Đông Nam Bộ, Nam Trung
Bộ và Tây Nguyên, Bình Thuận có nhiều điều kiện để
phát triển kinh tế và phát huy tiềm năng du lịch . Bình
Thuận được biết đến với những bãi biển có cảnh
quan đẹp, môi trường trong lành và hoang sơ như: Cà Ná,
Cù Lao Câu, Mũi Né, Hòn Bà, Đồi Dương... cùng các di tích
lịch sử văn hóa mang kiến trúc độc đáo: Khu di tích
Dục Thanh, tháp chàm Pôshanư, chùa Cổ Thạch... tất cả
đã tạo nên yếu tố quan trọng nâng cao vị trí du
lịch Bình Thuận trong hiện tại và tương lai.
Thời
tiết Bình Thuận khá thuận lợi cho việc tổ chức các
họat động du lịch. Đây là khu vực có độ nắng cao,
lượng mưa thấp và tập trung, nhiệt độ trung bình hàng
năm đạt khoảng 26,5-27,50C, được mệnh danh là
vùng đất: "Biển xanh -
nắng vàng - cát trắng"
THẮNG
CẢNH BÀU TRẮNG (BẠCH HỒ) - BÀU SEN 
Bàu
Trắng là một hồ nước ngọt, trưóc đây thuộc xã Bình
Nhơn, huyện Hòa Đa, Tỉnh Bình Thuận, nay thuộc thôn
Hồng Lâm, xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình cách Phan
Thiết khoảng 62km về hướng Đông Bắc.
Bàu Trắng hình thành từ lâu đời, nằm giữa vùng đồi
cát rộng mênh mông xen lẫu nhiều nhóm cây rừng thấp.
Nước trong hồ rất ngọt và trong. Từ xa nhìn lại một
màu xanh mát dịu phủ lên những đồi cát trắng. Bàu
Trắng chia thành 2 phần bởi một đồi cát vắt ngang
qua. Nhân dân ở đây từ xưa đã gọi là Bàu Ông và Bàu
Bà, mặc dầu bàu nước do thiên
nhiên tạo nên, nhưng trong dân gian vẫn tỏ lòng biết ơn
vì đã cung cấp nguồn nước nuôi sống con người
(một số ngưuời Chăm đã sử dụng nguồn nước trong
hồ làm nuớc sinh hoạt của họ) và động vật rừng
ở đây vào mùa khô. Nơi sâu nhất của Bàu Trắng là
19m và cạn dần về phía bờ. Quanh bờ có nhiều bông
sen, vào mùa hạ sen nở rộ tô thêm cho vùng cát trắng
những màu sắc rực rỡ.
Bàu Sen thuộc xã Hoà Thắng, huyện Bắc Bình
(Bình Thuận), cách thành phố Phan Thiết chừng 40km về hướng
Ðông Bắc. Bàu Sen còn có tên gọi dân dã khác là Bàu Bà
(bởi cách bàu này một dãy cát có một hồ nhỏ hơn
gọi là Bàu Ông) hay Bàu Trắng (bởi nằm giữa ba động
cát trắng), còn các thi nhân gọi là Bạch Hồ.
Ðể
đến Bàu Sen - Bạch Hồ, du khách có thể đi bằng hai
đường: đi xe đặc chủng từ Hòn Rơm (dài khoảng
12km), hoặc từ thành phố Phan Thiết theo quốc lộ 1A đến
thị trấn Lương Sơn, có ngã ba, rẽ phải chừng 18km là
đến nơi. Ði đường nào cũng có cái thú, cái hấp
dẫn riêng, nhưng đi hướng Lương Sơn thì đẹp hơn,
bởi xe chạy băng qua những ngọn đồi trọc, lúc lên
cao, lúc xuống thấp, xuyên qua các cánh rừng sò đo,
rừng dừa xanh mướt trên những động cát trắng thơ
mộng.
Khi
xe còn chạy trên đồi cao, thoạt tiên bên tay trái hiện
ra một đầm nước mênh mông trông như biển hồ, nước
xanh thẳm đến “nhức mắt” (nếu du khách đi đúng vào
lúc trưa), trải dài tuyệt đẹp, ai cũng phải ngạc nhiên,
trầm trồ và không thể không ngắm nhìn. Bàu Sen dài
3km, nơi rộng nhất 500m, độ sâu trung bình 5m, rộng
70ha, được bao bọc bởi những động cát. Ðộng cát
ở đây đẹp hơn Mũi Né, bởi cát thuần khiết một màu
trắng tinh anh, mịn màng.
Ngư
dân địa phương cho biết, hệ sinh vật ở Bàu Sen rất
phong phú, có nhiều loại cá nước ngọt rất ngon. Trong
hồ còn có loại cá trắm cỏ nặng đến 30kg! Ngày xưa
ở đây còn có cả cá sấu, nhưng con cá sấu cuối cùng
đã được bắt cách đây 25 năm. Sen ở đây mọc tự
nhiên, hầu như nở cả bốn mùa. Mỗi năm người dân địa
phương thu hoạch cả tấn hạt sen để làm mứt, nấu chè
trong những dịp tết.
Ðến
với Bàu Sen - Bạch Hồ, bạn có thể thuê chiếc xuồng
của ngư dân ven vùng dạo chơi, ngắm cảnh trên hồ, hay
câu cá cũng rất thú vị. Nếu thích tắm, nước ở đây
trong vắt, mát lạnh, sạch sẽ. Còn muốn cắm trại, bên
phía bờ Bắc có khu rừng dương mát rượi, bạn tha hồ
mắc võng nằm nghỉ ngơi, đàn hát. Ðừng quên mang theo
máy chụp hình để ghi lại những bức ảnh tuyệt đẹp
mà không phải nơi đâu cũng có.
Bàu Trắng không chỉ là nơi cung cấp nước ngọt mà còn
là thắng cảnh đẹp ở khu vực Hòa Thắng-Băc Bình.
Với nguồn nưóc mát quanh năm đã làm dịu đi cái không
khí nóng bỗng của đồi cát mênh mông là thắng cảnh
đẹp mà bất cứ ai đến vùng này đều phải ghé thăm.
VẠN
THỦY TÚ
Vạn
Thủy Tú được ngư dân Thủy Tú thiết lập vào năm Nhâm
Ngọ 1762 để thờ Ông (cá voi). Lúc mới xây dựng xong
cửa vạn sát ngay bờ biển, ngày nay bờ biẻn đã lùi
xa ra ngoài 100m.Ngày nay Vạn Thủy Tú tọa lạc trên đường
Ngư Ông, phường Đức Thắng, Tp. Phan Thiết.Khác với
những đình làng thường xây để thờ Thành Hoàng làng,
còn vạn, dinh lại thờ Cá Ông (cá Voi) và thường xây
dựng ngay trước bờ biển của làng Ngư.Theo
ngư dân Bình Thuận cá Ông là vị thần cứu giúp ngư dân
mỗi khi gặp tai nạn trên biển, và là vị thần chung
thủy với Ngư dân nên được Ngư dân kính yêu và tôn
trọng.
Vạn Thủy Tú từ ngày xây dựng xong đến nay đã chứa
gần 100 bộ xương cá Voi và nhiều loài khác cùng họ. Hơn
một nữa các bộ xương đó có niên đại trên 100 -150 năm,
trong đó có những bộ xương to lớn được thờ phụng
tôn nghiêm. Trong khuôn viên của Vạn có một doi đất
rộng, dùng để mai táng Cá Ông mỗi khi ông
"lụy" và dạt từ biển vào. Mỗi lần mai táng
xong, sau 3 năm mới được thương cốt nhập tẩm theo
phong tục.Trong số ngư dân hễ người nào trông thấy Ông
trước thì người đó làm con trưởng của Ngài, và
nguời này phải lo đám tang chu đáo, để tang sau 3 năm
mới hết hạn v.v...
|
Bí mật của những bộ hài cốt “Ông Nam Hải” |
|
...
Người
nổi tiếng "có duyên" nhất Vạn Thuỷ Tú là
ông Nguyễn Sáu - thường gọi là ông Sáu Vẹo -
một ngư phủ đã gặp "Ông" lụy không dưới
15 lần. Có lần kéo lưới lên, thấy "Ông"
mắc lưới, ông Sáu đành bỏ mẻ cá ấy để đưa
"Ông" ra; nhưng đến hai lần sau vẫn thấy
"Ông" chui vào trở lại, ông Sáu cho rằng
"Ông" sắp luỵ nên đã chọn mình để ký
thác xương cốt. Ông Sáu đành bỏ chuyến biển hôm
ấy để đưa "Ông" vào bờ, lên Ngọc Lân
thánh địa trong đình Vạn Thuỷ Tú nằm chờ
chết...
|

|
|
Bộ
ngà |
Những ngày
đầu năm này, hàng ngày có nhiều người dân Phan
Thiết lui tới đình Vạn Thuỷ Tú để xem việc
phục chế bộ xương cá voi lớn nhất Việt Nam. Công
việc được tiến hành ở ngôi đình có 240 năm
tuổi, gần bằng thời gian thành lập tỉnh Bình
Thuận. Dự kiến công trình phục chế bộ xương cá
voi còn nguyên cặp ngà ấy sẽ khánh thành vào dịp
lễ Tế Xuân, ngày 20/2 âm lịch (22/3/2003).
Thông tín viên BinhThuantoday đã tới ngôi đình độc đáo
còn lưu giữ khoảng 600 bộ hài cốt cá voi này.
Từ xa xưa, ngư dân duyên hải miền Trung có tín ngưỡng
thờ cúng cá voi như vị thần hộ mệnh. Với sự tôn
kính đặc biệt và nhớ ơn loài cá khổng lồ qua
những truyền thuyết cứu nạn người đi biển khi
gặp bão to sóng dữ, họ gọi cá voi là "Ông
Nam Hải".
Khoảng sau năm 1693, theo chân những đoàn quân nhà
Nguyễn, những ngư phủ vùng Nam, Ngãi, Bình, Phú…
đã đưa gia đình lên thuyền xuôi về phương Nam,
đổ bộ lên cửa biển Phố Hài lập nghiệp. Khi
những cộng đồng ngư dân đã an cư, ngoài việc
lập đình thờ Thành hoàng và chư vị tiên hiền như
những làng xã chuyên sống bằng nghề nông, họ còn
lập đền miếu thờ Ông Nam Hải. Trải qua bao dâu
biển đổi thay, bên hữu ngạn cửa sông Phan Thiết
ngày nay - thuộc phường Đức Thắng, thành phố
Phan Thiết - có một ngôi đình toạ lạc tại số
20A đường Ngư Ông được xếp hạng di tích cấp
quốc gia vào năm 1996 là Đình Vạn Thuỷ Tú.
Đình được dựng lên vào năm Nhâm Ngọ (1762),
mặt hướng ra biển Đông. Kiến trúc đình nhỏ và
bình thường như những đình làng khác ở miền
Trung, nhưng bên trong có nhiều điểm khác biệt. Hương
án chính giữa đình Vạn Thuỷ Tú thờ Nam Hải cự
tộc Ngọc Lân tôn thần; bên trái thờ Thuỷ Long thánh
phi nương nương tôn thần và bên phải thờ Thái
hiệu tiên sư tôn thần. Cạnh chính điện còn có
miếu thờ đức Quan thánh. Phía sau là những phòng
lưu trữ, bảo tồn chừng 600 bộ hài cốt của các
"Ông", "Bà" và "Cậu", là
những hải thần phò trợ, cứu mạng người đi
biển theo quan niệm của ngư dân. Theo ông Nguyễn Xèng
- một lão ngư 69 tuổi, gốc người Quảng Điền
(Thừa Thiên-Huế), ngư dân địa phương gọi cá Ông
lớn là Ông Nam Hải, nhỏ là Cậu; gọi các loài rùa
biển là Bà sống khến, Bà Năm, Bà Bảy... Những
vị hải thần này thường tấp vào bờ để
"luỵ" (chết), cũng có khi chui vào lưới
của các ngư phủ khi sắp "luỵ". Hàng năm,
ngư dân Thuỷ Tú cũng vớt được "Ông"
hoặc các "Bà" luỵ, có năm tới 6-7 trường
hợp cả ven bờ và trên biển…
|

|
|
Trong
đình có 600 bộ xương cá voi |
Người nổi
tiếng "có duyên" nhất vạn Thuỷ Tú là ông
Nguyễn Sáu - thường gọi là ông Sáu Vẹo - một ngư
phủ đã gặp "Ông" luỵ không dưới 15
lần. Có lần kéo lưới lên, thấy "Ông"
mắc lưới, ông Sáu đành bỏ mẻ cá ấy để đưa
"Ông" ra; nhưng đến hai lần sau vẫn thấy
"Ông" chui vào trở lại, ông Sáu cho rằng
"Ông" sắp luỵ nên đã chọn mình để ký
thác xương cốt. Ông Sáu đành bỏ chuyến biển hôm
ấy để đưa "Ông" vào bờ, lên Ngọc Lân
thánh địa trong đình Vạn Thuỷ Tú nằm chờ
chết.
Ngọc Lân thánh địa là nghĩa trang chôn cất
thi hài các vị hải thần mới chết, trước khi
được bốc mộ rửa sạch xương cốt đưa vào
thờ phụng trong đình. Đó là một khoảnh đất có
hàng rào bao quanh nằm trước sân đình, bên trong có
một am nhỏ để thắp hương và nhiều loại hoa
được trồng xen giữa 24 ngôi mộ đắp đất. Hàng
năm, đình Vạn Thuỷ Tú có 5 kỳ tế lễ vào các
ngày âm lịch: 20-2 (Tế Xuân); 20-4 (Cầu ngư); 20-6
(Chính mùa); 20-7 (Chèo dọc) và 23-8 (Mãn mùa, cúng
giỗ Ông).
Không chỉ những ngư phủ mới tin vào sự phù trợ
của các vị hải thần như một tín ngưỡng dân
gian mang tính truyền thống. Các vị vua nhà Nguyễn
cũng ghi nhận công lao đó với 24 điệu sắc thần.
Trong số đó, riêng vua Thiệu Trị ban tặng đến 10
điệu sắc thần, còn lại là của các đời vua
Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân, Khải Định...
Những điệu sắc thần viết trên giấy thủ công -
trong đó, 10 bản đã có hơn 150 năm tuổi nhưng
vẫn được giữ gìn cẩn trọng, nguyên vẹn trong
ngôi đình Vạn 240 năm tuổi này. Đình Vạn Thuỷ Tú
hiện còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá
trị liên quan đến lịch sử hình thành và phát
triển cộng đồng cư dân nghề cá vùng hữu ngạn
cửa sông Phan Thiết do các bậc tiền bối để
lại. Trong đó, có chiếc chuông đồng đúc vào năm
Nhâm Thân (1872), đến nay đã được 130 năm; thân
chuông có dòng chữ "Tự Đức nhị thập ngũ niên
- Xuân quý giáo đáng - Thuỷ Tú Vạn - Bổn Vạn đồng
ký".
Trong hàng trăm bộ hài cốt lưu giữ tại đình
Vạn Thuỷ Tú có hai bộ xương cá voi rất lớn. Tài
liệu cũ chép rằng: "Thuở mới lập Vạn xong,
một hôm Ngài bị luỵ ở ngoài khơi trôi về ngay
trước cửa Vạn. Vì Ngài lớn quá (dài hơn 20m,
nặng tới vài chục tấn) nên mãi hai ngày sau, với
sự giúp sức của ngư dân các làng lân cận đến
giúp mới tẩm liệm xong cho Ngài". Ông Nguyễn Xèng
lại kể rằng: "Khi Ngài lụy, bạn chài nhiều
làng đang đánh cá cùng phát hiện và tranh nhau đưa
về thờ phụng. Lúc ấy, Vạn Thuỷ Tú đông người,
nhiều ghe nên đưa được Ngài về vùng nước
cạnh hòn Lao (trước mặt đình Vạn) rồi đóng
cọc buộc giữ xác ngài để thuỷ táng vì không có
cách nào kéo lên bờ được. Sau ba năm mới đưa xương
cốt Ngài vào đình bảo quản, thờ phụng".
Theo ông Xèng, bộ xương lớn nhất (dài hơn 18m) có
niên đại chừng 110 năm, bộ lớn thứ nhì (dài
14m) của Ông luỵ năm 1953.
Hiện nay, UBND thành phố Phan Thiết giao cho Phòng Văn
hoá Thông tin làm chủ đầu tư công trình phục
chế, lắp dựng bộ xương cá voi lớn nhất đặt
tại đình Vạn Thuỷ Tú, dự kiến sẽ khánh thành
vào dịp lễ Tế Xuân, ngày 20/2 âm lịch (nhằm
22/3/2003). Ông Đào Văn Chừ - Trưởng phòng VHTT thành
phố Phan Thiết cho biết, đã tham khảo, tìm hiểu
nhiều nơi, cuối cùng chọn phương án nhờ sự hỗ
trợ của Viện Hải Dương Học (HDH) Nha Trang, giao
cho DNTN Lê Vũ (Nha Trang) thiết kế, thi công phục
chế, lắp dựng bộ xương cá voi này. Ông Đào
Tấn Hỗ - Trưởng phòng Bảo tàng HDH Nha Trang cho
biết:" Bộ xương cá Ông này sau khi phục chế
có lẽ là bộ xương lớn nhất ở nước ta và cũng
có thể lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á, sẽ
tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học đến
nghiên cứu và khách du lịch đến chiêm ngưỡng".
Hàng ngày,
nhiều người dân địa phương thường lui tới đình
Vạn Thuỷ Tú xem việc phục chế đang được tiến
hành kể từ đầu tháng 1/2003. Một người dân nói:
"Cả đời tôi chưa được tận mắt thấy nguyên
hình bộ xương Ông Nam Hải. Tôi thấy rất vui khi
ngay tại đây sẽ có một công trình ý nghĩa như
vậy. Tuy nhiên, việc chặt bỏ cây cổ thụ để xây
dựng ngôi nhà để đặt bộ xương Ngài choán hết
nửa sân đình Vạn Thuỷ Tú như vật thiệt cũng
uổng vì cảnh quan bị phá vỡ, che khuất cả ngôi
đình cổ xưa nhất Phan Thiết này. Rồi đây,
những ngày tế lễ hàng năm của Vạn cũng sẽ
gặp nhiều trở ngại vì sân đình quá chật
hẹp".
Đình Vạn Thuỷ Tú là di tích văn hoá tín ngưỡng
địa phương có niên đại sớm nhất ở Phan Thiết
và cả tỉnh Bình Thuận - tính đến nay đã được
240 năm, gần bằng thời gian thành lập tỉnh Bình
Thuận - là kiến trúc đánh dấu sự hình thành và
phát triển nghề cá và cộng đồng ngư dân địa
phương, một bộ phận quan trọng trong cơ cấu xã
hội ở Phan Thiết, Bình Thuận.
|
Về
việc phục chế bộ xương cá voi ở Vạn
Thuỷ Tú
- Năm 1995, một bộ xương cá voi dài gần 18m
đã được phục chế, lắp đặt tại Viện
Hải Dương Học (HDH) Nha Trang. Lúc ấy, bộ xương
cá voi này được coi là có kích thước lớn
nhất được phát hiện ở Việt Nam. Thực
ra, bộ xương cá voi lớn nhất ở đình Vạn
Thuỷ Tú đã được bảo quản, lưu giữ từ
nửa sau thế kỷ 19 có kích thước lớn hơn
nhưng chưa được các nhà quản lý và giới
khoa học biết đến. Theo ông Đào Tấn Hỗ -
Trưởng phòng Bảo tàng Viện HDH Nha Trang - dù
công việc phục chế đang tiến hành, chưa có
được số đo chính xác nhưng có thể xác định
chiều dài bộ xương ở Vạn Thuỷ Tú dài hơn
18m.
-Bộ xương ở Viện HDH Nha Trang bị vỡ
nhiều xương sườn và không có cặp ngà.
Bộ xương ở Thuỷ Tú còn nguyên cặp ngà quý
giá nhưng thiếu khá nhiều đoạn xương
sống và xương đầu bị vỡ, sứt nhiều
chỗ do quá trình dịch chuyển và chất
những bộ xương khác chồng lên. Để khiêng
bộ xương đầu ra khỏi hậu đình, đem ra nhà
võ ca để phục chế, gần hai chục thanh niên
lực lưỡng phải gồng mình hết sức mới
nhấc lên nổi.
- Bộ xương ở Vạn Thuỷ Tú thiếu: 14/63 đốt
xương sống; 4/30 chiếc xương sườn; 4 đốt
xương treo, 13 đốt xương chi trước và 8 xương
móng, vi.
- Công nghệ composite được dùng phục chế
bộ xương cá voi ở Vạn Thuỷ Tú, có khả năng
chịu đựng khí hậu vùng biển nhiệt đới
tốt hơn thạch cao đã dùng cho bộ xương ở
Viện HDH Nha Trang. Toàn bộ khung đỡ, giá
treo dùng inox. Bục đế hình chiếc thuyền
bằng gỗ hương. Mặt sàn lót mica với hệ
thống đèn chiếu tạo hình ảnh sóng biển.
Thiết kế và thi công do DNTN Lê Vũ (Nha Trang)
đảm nhận với sự tư vấn về khoa học
của các ông Đào Tấn Hỗ và Chu Anh Khánh
(Viện HDH Nha Trang). |
|
Vạn Thủy Tú là một trong những dinh, vạn cổ xưa
nhất của Bình Thuận, được ngư dân làm biển coi như
thủy tổ nghề biển. Vạn Thủy tú còn là một trong
những di tích cổ có số lượng lớn sắc phong của các
vị Vua triều Nguyễn ban tặng để thờ cá Ông và các
vị Hải Thần. Vạn Thủy tú đã được Nhà nước xếp
hạng di tích lịch sữ cấp Quốc gia năm 1996.
ĐẬP
ĐÁ DỰNG
Được xây dựng từ năm 1958, chắn ngang dòng sông Dinh
nối với hai bờ Tân An và Tân Bình. Lúc
đầu đập xây dài 80m nhưng vài năm sau bị lũ rừng tràn
về phá sâu vào bờ tả ngạn nên đập phải kéo dài thêm.
Đập Đá Dựng nằm ở vị trí có nhiều khối đá thiên
nhiên sừng sững nằm ngổn ngang giữa dòng sông. Đập xây
để dẫn nước vào đồng ruộng và chứa nguồn nước
sinh hoạt cho cả khu vực Lagi, nhưng với vẽ hoang sơ đã
tạo nên cảnh đẹp khá lãng mạn. Lúc mới xây đập có
một nhà thủy tạ được xây theo dáng dấp chùa Một
Cột ở Hà Nội nằm trên lòng hồ của đập, nhưng sau
đó bị lũ cuốn sập-có nhiều năm Đập Đá Dựng bị
hoang phế nay được cải tạo, nâng cấp vẫn còn một
quần thể đá lô nhô dưới làn nước đập đổ xuống
tạo ra những đám mù sương huyền ảo.
HẢI
ĐĂNG KHE GÀ
Hải
Đăng Khe Gà được xây dựng trên đỉnh đảo Khe Gà, đảo
có diện tích 5ha ở vùng biển xã Tân Thành, trước
thuộc huyện Hàm Tân, nay thuộc huyện Hàm Thuận Nam, cách
Phan Thiết 30km về phía Đông Nam. Hải Đăng Khe Gà do
một người Pháp tên là Chnavat kỹ sư thiết kế, xây
dựng để hướng dẫn tàu thuyền qua lại, khởi công
từ tháng 2 năm 1897, đến cuối năm 1898 mớI khánh thành,
đến nay vẫn còn một tấm đá hoa cương lớn đặt ngay
trước của vào Hải Đăng khắc số 1899. Hải Đăng Khe
Gà chính thức hoạt động năm 1900. Nhân viên điều hành
gồm có một người Pháp (trạm trưởng) và 8 người
Việt canh giữ đèn. Đảo Khe Gà cách bờ biển 500m,
những ngày nước ròng, từ bờ biển có thể lội ra đảo
được. Lúc triều cường và có gió đi lại rất vất
vả. Trên
đảo ngọn Hải đăng được xây dựng tương đối đồ
sộ, có lẽ đây là ngọn Hải đăng cao nhất trong nước,
xây bằng đá hoa cương, hình bát giác. Đá hoa cương xây
ở Hải Đăng Khe Gà chưa biết người Pháp đưa từ đâu
đến vì trong khu vực này không có loại đá này. Và không
phải chỉ những viên đá bình thường có 4 góc mà tất
cả những khối đá hoa cương dùng xây Hải đăng đều
đã được chạm, khắc thành từng ô, từng hình cụ
thể, khớp với nhau. Tháp đèn xây bằng đá cao 35m, độ
cao toàn bộ từ mặt đất đến chóp đèn là 41,5m, độ
cao từ tầm ngọn đèn đến mặt biển là 65m, kích thước
cạnh của tháp (chân tháp) là 2,60m. Trên ngọn tháp có bóng
đèn lớn 2000W làm tín hiệu hướng dẫn tàu bè qua
lại.
Ngoài ngọn Hải đăng, còn có một căn nhà lớn hình vuông
mỗi cạnh 40m, dưới nhà là một hầm chứa nước sâu
3m, trước nhà có một cái giếng gọi là giếng Tiên.
Từ dưới mép nước biển đến Hải đăng hàng chục
bậc tam cấp. Hai hàng hoa sứ dọc theo lối đi và xung
quanh chân Hải đăng do người Pháp trồng từ cuối thế
kỷ 19 đến nay vẫn còn nguyên, tỏa bóng mát quanh năm.
Lên ngọn Hải đăng có 184 bậc thang xoắn ốc bằng thép
dẫn đến đỉnh Hải Đăng cùng hàng chục bậc tam cấp
lên đến đỉnh đèn, tấc cả đều được đưa từ Pháp
sang, kể cả ngọn đèn trên đỉnh, máy phát điện.
Hiện nay hòn Đảo Khe Gà và ngọn Hải Đăng đã và đang
trở thành điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách.
Bởi Hải Đăng Khe Gà vừa là thắng cảnh vừa là di tích
kiến trúc độc đáo.
CHÙA
NÚI TÀ-CÚ
Chùa
tọa lạc trên đỉnh núi Tà Cú ở độ cao 475m thuộc xã
Tân Lập, Huyện Hàm Thuận Nam, cách Tp. Phan Thiết
khoảng 30km về phía Ðông-Nam. Chùa Núi được xây dựng
từ thế kỷ 19, nãm 1879 nhưng trước đó nhiều nãm đã
có chùa thờ Phật bằng mái tranh vách đất. Chùa Núi do
nhà sư Trần Hữu Ðức trụ trì, nơi xây dựng chùa do
nhà sư chọn, ở đó quanh nãm có cây xanh, suối
chảy, chim vượn ở ngay cạnh chùa. Về sau có nhiều lý
do khác nhau, chùa tách thành hai, chùa cũ gọi là chùa
Trên với tên gọi là Linh Sơn Trường Thọ và chùa Dưới
có tên là Linh Sơn Long Ðoàn, gọi chung là Chùa Núi.
Chùa Núi Tà Cú kết hợp, xen kẽ với núi rừng làm nên
khu danh lam thắng cảnh từ xưa. Toàn thể cảnh chùa là
một tổng thể kiến trúc bao gồm: Cổng Tam Quan, điện
thờ, tượng Phật, tháp mộ, hang Tổ, …. ẩn mình dưới
rừng cây cổ thụ xanh tươi bốn mùa.
Từ dưới chân núi, leo lên hàng
trãm bậc tam cấp theo những con đường ngoằn ngoèo giũa
rừng già mới đến chùa. Ở ðây không khí trong lành, mát
lạnh, hơi nước toát ra từ núi đá với không khí
lạnh mát hấp dẫn trong mùa hè. Chùa Núi nổi tiếng cũng
nhờ vào phong cảnh hùng vĩ nên thõ của núi rừng. Mặt
khác, Chùa Núi còn có pho tượng Phật nằm khổng
lồ:” Thích Ca nhập niết bàn” nằm ở vị trí cao
nhất cách chùa khoảng 100m. Tượng Phật này thuộc vào
pho tượng Phật hiếm có trong lịch sử Phật Giáo Việt
Nam. Tác phẩm do kỹ sư Trương Ðình Ý chủ trì vào nãm
1962.
Cách Pho Tượng Phật nằm chừng 50m là nhóm tượng Tam
Thế Phật: A Di Dà, Quan Thế Âm Bồ Tát, Ðại Thế Chí.
Cả 3 pho tượng có chiều cao khoảng 7m, với nét mặt
hiền hòa đang nhìn bao quát thế gian như để sẳn sàng
cứu nhân độ thế.Vào các mùa trong nãm lúc nào cũng có
khách thập phương đến viếng Phật, ngắm cảnh chùa và
rừng núi, nhất là dịp Xuân về Tết đến có hàng
vạn người kéo ðến chùa.
Huyền
thoại Linh sơn Tà Cú
Vùng
đất cực Nam Trung bộ có nhiều di tích lịch sử văn hóa,
nhưng với Linh Sơn Trường thọ trên núi Tà Cú (thuộc
huyện Hàm Thuận Nam) lại mang một bản sắc rất riêng.
Từ cảnh quan thiên nhiên đến những truyền thuyết như
hòa quyện vào nhau để Tà Cú càng thêm hoang sơ và
quyến rũ.Thắng cảnh di tích Tà Cú nằm ở vị trí đầu
mối các tuyến đường giao thông: từ thành phố Hồ Chí
Minh ra và các nẻo đường từ Vũng Tàu đi qua Suối nước
nóng Bình Châu, Dinh Thầy Thím (Hàm Tân), Mũi điện Khê
Gà… rất thuận lợi cho lộ trình hành hương và những
chuyến lữ hành du lịch sinh thái. Khách sẽ ngỡ ngàng
khi đứng trước cảnh chùa cổ kính, tượng phật trầm
tư và dấu thiêng của Tổ sư từ buổi khai sơn cách đây
trên 130 năm. Không đợi đến ngày giỗ tổ Hữu Đức hàng
năm (mùng 5 tháng mười âm lịch), hoặc Tết nguyên đán
mà gần như thường xuyên đều có khách thập phương đến
viếng cảnh. Những tốp người lặn lội leo hàng ngàn
bậc đá của những đoạn dốc cao kéo dài 2.000m mới đến
được một cõi an nhiên đầy bóng xanh của tán lá
rừng, lẩn khuất màu mây.
Đã
có khá nhiều trang viết, bài báo nói về chùa Tà Cú, nhưng
với tôi mấy lần lên xuống núi vẫn mang nặng bao điều
băn khoăn xung quanh những câu chuyện tưởng chừng bí
ẩn. Hỏi chuyện nhà sư trụ trì, rồi gặp những người
cao tuổi từng sống dưới mái ngói rêu phong của tổ đình
và đến tận chùa Pháp Bửu Đàn (Hàm Tân) để nghe sư
bà nói về ngôi chùa tổ cội nguồn. Tôi cảm nhận ra
những điều kỳ diệu ở buổi ban sơ mà nhà sư Hữu Đức
và các chư hậu tổ đã dày công tạo dựng ngôi chùa,
những tượng Phật hoành tráng giữa chốn non cao rừng
thẳm.
Giữa
hoàn cảnh núi cao, khí hậu khắc nghiệt, cách biệt
với cư dân thì nhà sư sẽ sống ra sao? nhưng được lý
giải từ những môn đồ kế tục rằng: Nhờ pháp
thuật cao siêu mà tổ Hữu Đức thuộc dòng Lâm tế chánh
tông thứ 40 đạt được sức mạnh chuyển hóa vạn
vật xung quanh. Biết bao huyền thoại về tổ Hữu Đức
suốt 16 năm khai sơn với sự nhiệm màu của trí huệ,
đại hùng. Theo nhiều người truyền tụng, có một
bạch hổ luôn phủ phục bên hang Tổ, quấn quít theo chân
Tổ bất cứ đi đâu. Mãi cho đến ngày Tổ tịch thì
hổ cũng chết theo nên mới có ngôi mộ hổ ở vườn chùa.
Trên cánh rừng cạnh chùa có cặp chim hồng hoàng cao cát
với bộ lông rất đẹp, xuất hiện từ khi có Tổ.
Tiếng chim hót lên cũng là báo hiệu có khách thập phương
dưới chân núi sắp lên rồi bay lượn dẫn đường không
sai một bước. Bữa ăn hàng ngày của Tổ là lá rừng,
rau lũi hái ở vách núi bên hang, nước uống thì lấy
từ khe đá. Có người kể về giai thoại của Tổ cho đến
sau này, đó là khi xây pho tượng Phật nằm 49m, nhu cầu
vận chuyển hàng trăm tấn sắt thép, xi măng lên núi đã
khó trong khi khối lượng cát xây phải cần đến gấp
chục lần lại giữa địa hình sườn núi đá phủ kín
mà không phải đưa từ dưới núi lên. Trước ngày thi công
theo thời gian của thợ hồ, sư trụ trì lúc ấy cho
trữ nước vào các hồ, mái chứa rồi bít kín các lỗ
mạch nước chảy hàng ngày, sáng ra từ các mạch nổi
đã trào ra những đụn cát nhuyễn dùng được cho công
trình.Vào năm Tự Đức thứ 33 (tức 1880), hoàng thái
hậu là bà Từ Dũ lâm trọng bệnh, mắt mù lòa nhưng các
ngự y, danh y tài giỏi ở triều đều bất lực. Nhà vua
châu tri khắp thần dân trong nước kêu gọi ai cứu được
mẫu hậu sẽ trọng thưởng. Bởi tiếng đồn về danh
đức, pháp thuật của Tổ từ lâu, nay quan thủ hiến đầu
tỉnh Bình Thuận lập tức viết biểu tâu lên vua. Vua
Tự Đức hạ chiếu sai sứ xin rước Tổ về triều
chữa bệnh cho Hoàng thái hậu. Nhưng vì đã nguyện không
bao giờ xuống núi nữa mà Tổ chỉ trao cho sứ thần
thảo dược cùng cách sử dụng. Quả là linh nghiệm, sau
khi uống hết các chú chuẩn đề và thuốc, Hoàng thái
hậu vượt qua căn bệnh hiểm nghèo, nhanh chóng bình
phục. Vua Tự Đức tỏ lòng cảm phục Tổ ban sắc phong
bốn chữ “Linh Sơn Trường Thọ” cho nơi Tổ sáng
lập và tu tịnh.
Tôi
lần theo vách đá xuống hang Tổ trong bóng tối âm u
chỉ vài chục mét đã thấy hơi lạnh xông lên đến
rợn người. Vậy mà Tổ Hữu Đức chọn làm nơi thiền
tịnh. Người ta kể, quăng một trái bưởi xuống hang thì
vài ngày sau sẽ tìm thấy trái bưởi đó trôi trên
biển Khê Gà… Chui vào lòng tượng Phật nằm, len qua
những gộp đá hoa cương ở lưng chừng núi mới thấy
trí lực của những thiền sư đã khơi dậy sự mầu
nhiệm đáp ứng nỗi khao khát của con người. Tà Cú
với tiềm năng đa dạng được thiên nhiên ưu đãi nức
tiếng linh sơn từ rất xa xưa gắn với những ngày khổ
hạnh tu luyện của Tổ Hữu Đức. Nơi đây hiện là
một trong những điểm du lịch khá nổi tiếng của Bình
Thuận.
Những
nãm gần đây nãm nào cũng tổ chức hội thi leo núi thu
hút nhiều thanh niên từ các tỉnh miền Ðông tham gia.
Sắp tới nõi đây sẽ thực hiện dự án cáp treo để
đưa du khách lên xuống tham quan được thuận tiện hơn.
Chùa Núi cùng với những cánh rừng trong khu Bảo Tồn
Thiên Nhiên đã được Nhà Nước xếp hạng thắng cảnh
quốc gia nãm 1993.
CHÙA
HANG
Chùa
Hang (Cổ Thạch): Chùa Hang còn gọi là Chùa Cổ Thạch,
tọa lạc tại bờ biển xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong,
cách Tp. Phan Thiết 105km về hướng Bắc. Chùa được xây
dựng trong hang đá lớn do thiền sư Bảo Tạng lập vào
khoảng giữa thế kỷ 19. Đường lên chùa Hang có xây
bậc, lan can hai bên chùa đắp rồng. Trên núi đá nhỏ sát
bờ biển có tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong chùa
có tượng Đức Phật Thích Ca. Cạnh chùa là bãi đá Cà
Được nhiều màu sắc chạy dọc bờ biển gần 1km. Xung
quanh chùa Hang cảnh quan tuyệt đẹp, một làng du lịch
Cổ Thạch mới mọc lên với nhiều ngôi nhà xinh xắn
được xây theo kiểu nhà sàn để đón khách phương xa
về viếng chùa và thưởng ngoạn thắng cảnh.
Cổ Thạch là một vùng núi đá rộng, gồm hàng ngàn, hàng
vạn tảng đá lớn nhỏ, có tảng đá nguyên khối to như
những ngôi nhà, có tảng giống như bàn Thạch, có
những tảng chồng lên nhau, úp vào nhau, như có bàn tay
con người sắp đặt, bố trí, có những tảng đá có hình
thù kỳ lạ đầy tính cách huyền bí và chứa đựng
vẻ đẹp nguyên sơ độc đáo với nhiều hang động nguyên
sinh luồn sâu vào trong núi. Chùa Cổ Thạch ngoài vẻ đẹp
tự nhiên của hang động kết hợp với sự sáng tạo
của con người, ở đây còn lưu giữ nhiều di sản văn
hóa lịch sử quý hiếm: nhiều di sản văn hóa Hán Nôm
liên, đối, hoành phi và những tài liệu có từ ngày
lập chùa. Một số cổ vật có giá trị lịch sử văn hóa
khác như Đại Hồng chung, trống sấm đều có niêm đại
từ nửa đầu thế kỷ 19.
Chùa Hang hàng chục năm nay do Hòa Thượng Thích Minh Đức
trụ trì là điểm du lịch chính ở Bình Thuận, hàng
chục vạn du khách từ mọi miền đất nước và du khách
nước ngoài đến đây hàng năm để chiêm bái, lễ
Phật và tham quan danh lam thắng cảnh độc đáo hiếm có
ở đây. Những giá trị về thắng cảnh thiên nhiên và
về lịch sử văn hóa, Cổ Thạch Tự đã được Nhà nước
xếp hạng di tích thắng cảnh cấp Quốc gia năm 1993.
Trang
2
|