|
|
|
Chùa
Phật Quang xây dựng và nửa đầu thế kỷ
XVIII, tọa lạc ở Phường Hưng Long, thành
phố Phan Thiết. Vị trí của ngôi chùa vào
thời điểm xây dựng dân cư thưa thớt, bao
quanh là những đồi cát mênh mông chạy dài
ra biển nên trong dân gian cũng có tên gọi là
Chùa Cát.
Khuôn
viên của Chùa Phật Quang tương đối lớn, bên
trong bao gồm một tổng thể kiến trúc,
cổng tam quan, chùa Tổ, chánh điện và hệ
thống các công trình phụ nối liền giữa Chùa
Tổ và chánh điện. Mặt chính của Chuà quay
về hướng Nam. Do xây dựng từ lâu đời nên
Chùa đã hư hỏng, xuống cấp và được tu
bổ nhiều lần .Lần tu bổ quy mô gần đây
nhất là vào năm Bảo Đại thứ 9 (Giáp
tuất 1934) đợt này tu bổ lại hoàn toàn chùa
Tổ và một số hư hỏng của các hạng mục
khác. Về kết cấu kiến trúc không có gì đặc
biệt so với các ngôi chùa khác cùng thời
ở Bình Thuận.
Điểm
đặc biệt quan trọng trong ngôi chùa Cổ này
là các thế hệ thiền sư ở Chùa đã thay
nhau đóng góp, giữ gìn bảo quàn rất tốt
nhiều bộ phận thuộc di sản văn hoá có giá
trị. Đó là chiếc Đại hồng chung lớn đúc
bằng đồng chạm khắc đẹp, tinh tế và 4
mặt chuông khắc địa danh, lịch sử chùa cũng
như niên đại, chuông được đúc vào
năm Canh Ngọ 1750 dưới thời Chúa
Nguyễn Phúc Khoát. Một số hiện vật khác là
những bản khắc gỗ tạo nên bộ kinh pháp
hoa với 118 bản. Đa phần trong 118 bản khắc
cả 2 mặt bằng chữ Hán sắc nét bao gồm 60
vạn lời, trong đó có 7 bản khắc hoạ hình
ảnh Đức Phật thuyết pháp. Bộ kinh Pháp
Hoa hoàn thành vào năm 1734 mà bản cuối cùng
trong 118 bản khắc “ Long Đức Tam niên tuế
thứ giáp dần tứ nguyệt sơ nhất nhật” ,
tức là hoàn thành vào ngày mùng một tháng tư
năm Long Đức thứ ba ( giáp dần 1734).
Long Đức là hiệu của vua Lê Thuần Tông đời
hậu Lê lên ngôi 1732.
Bộ
kinh do hai khất sĩ Ninh Dung và khất sĩ
Thiết Huệ hiệu là Khánh tài chủ trương
xin phép khắc. Cũng trong bản khắc cuối cùng
của bộ kinh ghi công của 6 người đứng ra
quyên góp và cúng tiền , người đứng ra in,
nhiều người cúng gạo cơm và ghi cả công
của 2 vị thiền sư cùng 12 Phật tử khắc
trong thời gian 28 năm mới hoàn thành bộ kinh
này. Họ phải rất khéo tay và kiên nhẫn
mới đạt được tác phẩm có nhiều giá
trị và đồ sộ này
để lại cho hậu thế. Hiện bộ kinh
khắc gỗ đang lưu giữ tại chùa Phật Quang.
Trong
số những ngôi chùa cổ ở Bình Thuận, chùa
phật Quang ngoài kiến trúc và nội dung chứa
đựng nhiều di sản văn hoá nói chung và văn
hoá Phật giáo nói riêng, chùa còn có hoa viên
đẹp là nơi thu hút nhiều phật tử và du khách
đến tham quan, chiêm bái.
|
|
CHÙA
BÀ THIÊN HẬU
|
|
Chùa
Bà Thiên Hậu xây dựng năm 1725 toạ lạc
tại xã Phan Rí Thành huyện Bắc Bình tỉnh Bình
Thuận, cách thành phố Phan Thiết trên 70 km
về phiá bắc.
Chùa
Bà Thiên Hậu thực ra là một ngôi đền
thờ do người Hoa xây d ựng để thờ một
nhân vật theo truyền thuyết của người
Trung Hoa. Không rõ từ lúc nào kể cả người
Hoa và người Việt ở đây lại gọi đền
thờ bằng tên Chùa Bà Thiên Hậu và cũng
từ đó đền thờ này có tên gọi như hiện
nay.
Sách
xưa gọi là Đền Thiên Hậu đúng nh ư tên và
nội dung của ngôi đền thư ở mới xây
dựng. Nội dung có đoạn “Đền được xây
dựng ở ngoài quách tỉnh thành cũ, trước
đền gần sông phiá Bắc sông có gò cát đỏ
làm tiền án cho đền. Tương truyền thần
thờ trong đền là người huyện Tiêu Điền,
tỉnh Phúc Kiến bên tàu, họ Lâm là con gái
thứ hai của Ôn Công, 8 tuổi học đạo tiên,
12 tuổi luyện đơn đã thành, kêu gió, gọi
mưa được ứng nghiệm, Đời Tống có người
đi biển gặp nạn gió, thuyền gần bị lật
úp, thốt nhiên giữa không trung hiện ra một
người tự nói “ Ta là con gái Ôn Công, giáng
xuống để bảo hộ các người đây”. Rồi
trong khoảnh khắc, gió lặng, thuyền được
vô sự. Sau đó nhà Tống phong làm phu nhân,
triều nhà Minh phong làm Thiên Phi, triều nhà
Thanh phong làm Thiên Hậu Thánh mẫu”. Khi
dựng đền thờ ở đây, những người khách
buôn thường lui tới phụng cúng, đền thờ
rất tráng lệ.
Một
truyền thuyết khác tương tự như trên, nhưng
có đoạn khác “ bà Thiên Hậu biến thành
khúc gỗ gió (cây lấy trầm” trôi từ ngoài
biển vào, đến đoạn sông này ( sông Cái,
đoạn cuối sông Lũy trước lúc đổ ra
biển) khúc gỗ không trôi được nữa. Thấy
điều kỳ lạ người Hoa xưa đã xây đền
tại nơi khúc gỗ dừng để thờ bà.
Chùa
Bà Thiên Hậu xây dựng theo kiểu cách kiến trúc của người Hoa, kể cả trang trí
nghệ thuật, màu sắc bên trong, bên ngoài đều
mang đặc trưng văn hoá của người Hoa. Di tích
này nằm trên vị trí rất lý tưởng, ở
về hữu ngạn sông Cái, mùa nước cạn có
thể lội qua bên kia sông, quanh năm gió mát,
quanh chùa có nhiều cây cổ thụ lớn.
Chùa
Bà Thiên Hậu còn lưu nhiều di sản văn hoá
Hán Nôm, trong số đó có 5 sắc phong của các
vua triều Nguyễn ban tặng cho Bà Thiên Hậu vì
Bà đã có công giúp đỡ cho nhân dân
trong vùng và phù hộ cho họ về mặt tinh
thần. Chùa Bà Thiên Hậu là một trong những
ngôi chùa Cổ nhất Bình Thuận . Chùa đã
được tu bổ một số lần nhưng vẫn giữ
được kiến trúc và trang trí nghệ thuật xưa.
Hiện
nay Chuà Bà Thiên Hậu là một trong những nơi
du ngoạn và viếng thăm không phải chỉ có
người Hoa mà còn rất đông đảo người
Việt đến vì sự tín ngưỡng và tâm linh
của họ, một phần khác vì ở đây có
nhiều cảnh trí thoáng mát , kết hợp với
chùa tạo nên nơi nghỉ dưỡng, thoải mái và
có lòng tin Thần sẽ phù hộ.
|
|

|
|
Đình
làng Đức nghĩa được xây dựng vào những
thập niên đầu thế kỷ XIX ở vị trí gần
Đình làng Đức Thắng, vì những lý do khách
quan về phong thổ địa lý nên dân làngdời
đình lên động cát làng Thành Đức, sau khi
sáp nhập làng Thành Đức với Vạn Nam Nghĩa
nên mới có tên là Đức Nghĩa. Đình xây
dựng trên động cát cao, phía trước có ao
sen lớn.
Đình
làng Đức Nghĩa có dạng kiến trúc giống như
Đình làng Đức thắng, cổ lầu là nơi tập
trung phần trang trí nghệ thuật đặc sắc
nhất trong tổng thể đình làng. Ở đây
nghệ nhân xưa đã dùng nghệ thuật ghép
mảnh sứ, sành để tạo nên hình tượng
“Tứ Linh” , những phần dưới của mái
hạ, các bờ nóc, bờ quyết cũng được
trang trí nghệ thuật làm ngôi đình vừa cổ
kính vừa trang nghiêm.
Nhà
thờ Tiền Hiền, Hậu Hiền cũng có lối
kiến trúc như đình chính nhưng chiều dài có
phần kéo ra hơn. Đây là đặc trưng của
kiến trúc đình làng nửa sau thế kỷ XIX ở
Bình Thuận.,.
Nội
thất của Đình làng Đức Nghĩa , nhất là
ở phần trang trí nghệ thuật chạm khắc bên
trong Đình chính với hệ thống bao lam bằng
gỗ, như bức rèm như xuống các khám thờ
sống động bởi những dây leo, hoa lá, chim
muông từ những chạm khắc của người thợ
xưa. Nghệ thuật trang trí Đình làng Đức
Nghĩa cả ngoại thất và nội thất phối
hợp với nhau tạo nên những đường nét
kiến trúc cổ hài hoà và đạt đến đỉnh
cao so với một số ngôi đình trong thời kỳ
này.
Nội
dung thờ phụng bên trong như một kho tàng lưu
trữ hàng trăm hiện vật quý như hoành phi,
liên đối, khám thờ đã được chạm trổ công
phu và được lưu truyền qua nhiều thế hệ
đến ngày nay.
Tiền
Hiền của làng đang thờ tại Đình gồm các
ông Nguyễn Văn Bàng, Trần Văn Kim, Lê Văn
Hanh, Nguyễn Văn Thạnh là những đại diện
cho các họ có công khai khẩn lập làng,
dựng đình mà tên tuổi của họ đã được
dân làng trân trọng khắc ghi trong bài vị
thờ ở đình.
Đình
làng Đức Nghĩa còn lưu giữ nhiều di sản văn
hoá Hán Nôm, trong đó có đề cập đến
ruộng đất của làng, đến lịch sử văn đầu
thế kỷ XIX nguồn gốc dân cư ở làng...quan
trọng nhất trong số đó có 13 sắc phong
của các đời vua Triều Nguyễn ban tặng cho
Thành Hoàng làng cùng các vị thần khác, kể
cả nữ Thần Thiên YAna Diễn Ngọc Phi của
người Chăm.
Các
nghi thức cúng tế chính ở đình làng vào
dịp tế Xuân từ 14-16 tháng giêng Âm lịch và
tế Thu từ 14-16 tháng 8 âm lịch.
Đình
làng Đức Nghĩa đã được Nhà nước xếp
hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp
Quốc gia năm 1991, là một trong những ngôi đình
cổ trong danh sách các ngôi đình cổ ở
Việt nam.
|
|
|
|
Đình
làng Đức Thắng khi mới khởi dựng nằm
trung tâm
xã Đức Thắng thuộc phủ Hàm thuận nay là
phường Đức Thắng thành phố Phan Thiết.
Đình
làng Đức Thắng được xây dựng từ những
năm đầu thế kỷ XIX lúc đó chỉ là nhà
tranh vách đất để làm nơi thờ Thành Hoàng
làng và nơi hội họp của hội đồng kỳ
mục.Mãi đến năm 1841 khi chuẩn bị đầy đủ
vật liệu vaøtiền bạc mới xây dựng kiên
cố và bế thế, năm Ðình Mùi 1811 khởi công
nhưng vì đây là ngôi đình có quy mô lớn
nhất lúc bấy giờ ở Phan Thiét nên mãi đến
năm 1847 mới hoàn chỉnh, kể cả các công trình
phụ. Tài liệu ở đình Ðức Thắng ghi
việc xây dựng đình làng Ðức Thắng từ Tân
Sửu chí Ðinh Mùi.
Ðình
Ðức Thắng xây dựng theo lối kiến trúc dân
gian Tứ trụ tức là dùng bốn cây cột đình
lớn làm cột chính, từ đây toả ra và liên
kết với hết thảy các kết cấu kiến trúc
bằng gõ khác. Các công trình của đình chính,
nhà võ ca, nhà thờ Tiền Hiền, Hậu Hiền
hợp thành một tổng thể kiến trúc rộng
lớn và liên kết chặt chẽ với nhau.
Ngoại
thất đình đều được trang trí nghệ
thuật bằng kỹ thuật đắp nổi và ghép
mảnh sành tạo nên nhièu tác phẩm chặm
khắc đẹp phù hợp với tín ngưỡng dân
gian ở đình. Riêng phần cổ lầu trên đình
chính là nơi tập trung các tác phẩm trang trí
nghệ thuật, đắp nổi những bức tranh dân
gian,cảnh thiên nhiên muông thú và các điển
tích xưa.
Nội
thất đình bài trí nhiều khám thờ, hai bên
treo các câu liễn, bên trên đặt những tấm
hoành, dọc theo khám thờ nhiều bao lam gỗ
được nghệ nhân xưa dùng kỹ thuật chạm
lộng để thể hiện đề tài, tạo nên
nhiều hình thức tượng, phong cảnh thiên nhiên
sinh động. Những tác phẩm điêu khắc bằng
gỗ này phần lớn có niên đại từ thời các
vua Triều Nguyễn, trong đó một só có từ
thời Tự Ðức.
Nhà
thờ Tiền Hiền là nơi bài trí nhiều hoàng
phi cỡ lớn, những
câu liễn với những bài thơ ghép mảnh xà
cừ, tất cả những bàn thờ đều chạm
trổ điêu khắc thể hiện hình tượng Tứ
linh. Tiền Hiền của Ðình làng Ðức Thắng
có thờ nhiều người nhưng tiêu biểu là ông
Trần Chất mà trong dân gian còn ghi lại sự
tích và lòng can đảm của ông, vì bảo vệ
quyền lợi của dân làng Ðức Thắng, ông đã
chặn xe ngựa của Tả quân Lê Văn Duyệt trên
đường đi kinh lý phía Nam để xin xây cầu,
đặt chợ. Vì bị dừng xe vô cớ, Tả quân
Lê Văn Duyệt ra lệnh chém đầu tại chỗ.
Sau khi về đến Huế, xem lại tờ sớ của
ông Lê Văn Duyệt mới lấy làm hối hận và
xin vua ban cho ông là Tiền Hiền của làng Ðức
Thắng và ra lịnh thờ phụng.
Ðình
làng Ðức Thắng hiện còn lưu giữ nhiều
sắc phong do các vua Triều Nguyễn ban tặng,
đến nay còn rất tốt.
Xét
về tổng thể kiến trúc, đình làng Ðức
Thắng là ngôi đình có quy mô đồ sộ vào
loại nhất ở phủ Hàm Thuận thời bấy
giờ và cả khu vực Phan Thiết ngày nay. Là
một trong những ngôi đình có tên trong danh sách
những ngôi đình cổ của Việt Nam. Từ xưa
đến nay đình làng Ðức Thắng vẫn tổ
chức đều đặn các nghi lễ tế Xuân vào ngày
15-16 tháng 2 âm lịch và tế Thu vào ngày 16
tháng 9 âm lịch hàng năm. Ðình làng Ðức
Thắng đã được Nhà nước xếp hạng di tích
kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm
1991.
|

Thị
Trấn Chợ Lầu - Bắc Bình – Bình Thuận
Đình
làng Xuân An được kiến tạo vào năm Giáp dần
1794 và hoàn thành vào những năm sau đó. Đình
toạ lạc ở thôn Xuân An, thị trấn Chợ Lầu,
huyện Bắc Bình cách thành phố Phan Thiết 65km
về hướng Bắc.
Đình
làng Xuân An là một tổng thể bao gồm nhiều
kiến trúc : Đình chính thờ thần, đình thờ
Tiền Hiền, Hậu Hiền, nhà tiền vãng, nhà nhóm và
cổng tam quan. Hơn 300 năm trước, trong trào lưu di
dân từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung và phương
Nam dưới sự điều hành của các chúa Nguyễn,
một bộ phận dân cư dừng lại lấy vùng đất này
định cư lâu dài. Sau khi công cuộc khẩn hoang đã
hoàn tất và cuộc sống của nhân dân đã ổn định,
đình làng được xây dựng theo truyền thống
của người Việt để thờ Thần Thành Hoàng làng,
các bậc tiền bối có công xây dựng xóm làng, góp
công của dựng đình làng.
Các
nhà địa lý xưa đã xem đất và dựa vào
thuyết phong thủy của phương đông xưa để
chọn thế đứng của đình vì đây là điều hệ
trọng, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống
của dân làng về sau. Đình được xây dựng ở
vị trí trung tâm làng Xuân An,mặt chính quay về hướng
Nam, cách đình không xa về phía Nam là con sông Lũy,
trước mặt đình có nhiều động cát cao dùng là
án phong.
Đình
làng Xuân An là một trong những ngôi đình cổ có
quy mô rộng lớn và có lối kiến trúc nghệ
thuật độc đáo. Đình thờ thần bao gồm 48 cột
lớn bằng những loại gỗ đặc biệt, chia ngôi
đình thành 7 gian 2 chái, đình có kiểu kiến trúc
“nhà kép” , trên một nền nhà có 2 bộ khung nhà,
nhà trước và nhà sau liền nhau và nối với nhau
bằng hệ thống trần thừa lưu làm cho ngôi đình
rộng hơn. Mái đình lợp ngói âm dương, hai đầu
hơi cao lên, ở giữa trũng xuống. Mái nhà chia làm
2 mảng mái thượng và mái hạ. Tất cả các bộ
phận kết cấu kiến trúc ở đình như đầu kèo
đầu cột, trính, con đội (cột trốn)... đều
được chạm trổ tinh xảo, tạo nên những tác
phẩm trang trí nghệ thuật phức tạp. Ở đây có
sự kết hợp hài hoà giữa kết cấu kiến trúc và
trang trí mỹ thuật, vừa có công năng chịu lực,
vừa có tác dụng thẩm mỹ rất cao. Đó là giá
trị chính
của những người thợ xây dựng đình để lại
đến ngày nay.
Nội
thất đình chia thành nhiều khu vực, trung tâm
thờ Thành Hoàng làng, hai bên thờ tả ban, hữu
ban và những bậc tiền bối có công xây dựng xóm
làng. Điều đặc biệt ở trong ngôi đình làng Xuân
An là bên cạnh khám thờ thần còn có khám thờ
nữ thần Thiên YaNa Diễn Ngọc Phi là nữ thần người
Chăm. Trong mỗi khám thờ đều trang trí nghệ
thuật điêu khắc, hệ thống hoành phi, bao lam,
liễn đối sơn son thiếp vàng và thành vọng
viền xung quanh do kỹ thuật chạm lọng tạo nên.
Ở đình làng Xuân An còn có nhiều câu đối, hoành
phi khắc bằng chữ triện, đến nay nội dung của
những câu đối này chưa biết được.
Đình
thờ Tiền Hiền cũng có kết cấu 48 cột nhưng
chỉ có một nóc nhà, ở đây có nhiều khám thờ
để thờ các
thế hệ Tiền Hiền, Hậu Hiền.
Đình
làng Xuân An hiện còn lưu giữ hàng trăm hoành phi
, câu đối với nhiều giá trị mang tính nhân văn,
khuyên dạy mọi người hãy luôn nhớ về cội
nguồn, gốc rễ.
Trong
đình còn giữ chiếc Đại Hồng Chung
cổ có niên đại từ thời vua Tự Đức năm
thứ hai (kỷ Dậu 1849) và 8 sắc phong do các
triều vua Nguyễn ban tặng cho các vị thần được
thờ ở đình và giao cho chính quyền địa phương
phaỉ bảo quản và thờ phụng. Theo truyền thống
và phong tục tập quán của người Việt ở đây
hàng năm nhân dân thực hiện nghi lễ Tế Xuân vào
16-17 tháng 2 âm lịch và Tế Thu vào 16-17 tháng 8
âm lịch.
Đình
làng Xuân An đã được Nhà nước xếp hạng di tích
kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 1993.
|